Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

Ti vi Sony “chết” vì giá cao, chất lượng sa sút?

Ti vi Sony “chết” vì giá cao, chất lượng sa sút?

Theo một người chủ cửa hàng điện tử ở Machida, Tokyo, một người đã bán hàng điện tử của các hãng như Toshiba, Hitachi, Sharp, National, Panasonic và Sony trong hơn 40 năm, chất lượng sản phẩm Sony đã giảm sút trong nhiều năm qua. “Samsung đã vượt mặt Sony, đặc biệt ở mảng Ti vi”.


Một số chuyên gia nói rằng không giống như các công ty điện tử Hàn Quốc, các hãng Nhật Bản luôn đi đầu trong việc phát triển các sản phẩm mới. Sáng tạo luôn cần thời gian và rất tốn kém, nhưng trong thời kì vàng son, các kĩ sư Sony được tự do làm gì họ muốn, họ tập trung vào những công nghệ siêu thực hoặc khó thương mại hóa. Sony rất khuyến khích phát triển công nghệ mới. Nền văn hóa doanh nghiệp của Sony là “tự do và cởi mở”.


Yasunori Tateishi là một tác giả đã viết nhiều cuốn sách về Sony, trong đó có những cuốn mang tựa đề như: Sony: The Inside Story (Sony: câu chuyện bên trong). Ông còn được nhiều nhà báo khác gọi đùa là “Mr Sony”. Ngày 11/11/2011, Tateishi xuất bản cuốn “Sayonara, Our Sony” (Tạm biệt, Sony của chúng ta). Cuốn sách này miêu tả khá chi tiết, thuyết phục về việc CEO Idei và Stringer đã có những chính sách khiến Sony bị “tê liệt”.


Ngày 1/4/2012, ông Howard Stringer từ chức CEO Sony và ông Kazuo Hirai trở thành chủ tịch kiêm CEO của Sony vào ngày 5/4/2012. Theo ông Tateishi, vấn đề của Sony “không chỉ là vấn đề với riêng ông Hirai, mà với toàn bộ công ty từ thời CEO Idei”.


Ai đã “giết” Sony? Câu hỏi ngắn ngủi và đơn giản nhưng câu trả lời lại không hề đơn giản một chút nào. Theo Tateishi, một phần rắc rối của Sony nằm ở sự đa dạng. Người ta không còn hiểu rõ ràng Sony thực sự là công ty gì. Ở Nhật Bản, Sony là hãng điện tử tiêu dùng, nhưng ở Mỹ, theo cựu CEO Stringer, Sony lại là gương mặt của Người Nhện – là một công ty giải trí; và với nhiều nước khác, Sony có thể được xem là một công ty game – hãng sản xuất máy chơi game PlayStation. Có phải tất cả chỉ có thế?


TV Hàn Quốc giá rẻ hơn đã đánh bại Sony


Ti vi Sony luôn được định hình trong suy nghĩ của người tiêu dùng là một sản phẩm chất lượng cao. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người Việt Nam cũng từng luôn ví von “nét như Sony”. Tuy nhiên, đó là cách đây 20 năm. “Ti vi Sony có chất lượng rất tốt, hình ảnh rất đẹp”, một người bán hàng điện tử ở Tokyo nói. “Nhưng ngày nay, chất lượng đã đi xuống”. Một vấn đề nữa là trước đây, giá TV Sony rất đắt. Bây giờ, không ai trả mức giá cao như thế để mua Ti vi mới. “Sự thật là giá Ti vi đã giảm nhiều do sự cạnh tranh của các sản phẩm Hàn Quốc rẻ hơn”.


“Nói một cách công bằng, khi nhìn vào chất lượng màn hình, sản phẩm Nhật Bản vẫn tinh tế hơn sản phẩm Hàn Quốc. Nhưng giá Ti vi của Samsung hay LG rẻ hơn, và đó chính là điểm mạnh. Ngoài ra, chăm sóc sau bán hàng cũng là một vấn đề. Sản phẩm Sony có tuổi thọ cao hơn. Tôi nhận được phản hồi từ khách hàng rằng sản phẩm Samsung dễ hỏng hóc hơn. Tôi có thể đảm bảo rằng Ti vi Sony có tuổi thọ ít nhất 10 năm”, người chủ cửa hàng nói.


Quả thật, trước đây, khẩu hiệu của các công ty Nhật là sản phẩm của họ phải có tuổi thọ “ít nhất 10 năm”. Người Nhật cũng từng rất tin tưởng vào thông tin “Made in Japan”. “Ngày này, chúng tôi thường phát hiện lỗi trong khâu lắp ráp. Tôi nghe nói những khâu hoàn thiện sản phẩm và quá trình xác nhận chất lượng luôn rất khắt khe tại Nhật, khắt khe hơn những nước khác”, một chủ cửa hàng điện tử ở Tokyo nói. “Sony vẫn dẫn đầu ở mảng audio, nhưng Ti vi thì đang tụt hạng. Ti vi Sony vào những năm 1970 và 80 thực sự là những sản phẩm tốt, và bán rất chạy”.


“Đối với máy tính, những người đã từng dùng sản phẩm Sony ngay từ đầu sẽ tiếp tục mua của Sony. Nhưng hiện nay, máy tính Toshiba cũng bán rất chạy. Nói thật ra, điều này cũng phụ thuộc nhiều yếu tố. Những người thích thiết kế của máy tính Toshiba, chất lượng linh kiện cũng tốt, giá cũng không đắt hơn, vì thế sản phẩm Toshiba bán tốt hơn”.


Các hãng Nhật Bản mất dần vị thế lãnh đạo


Sony được cho là đã thực hiện các cuộc nghiên cứu nội bộ về tỉ lệ lỗi trên các sản phẩm của họ và phát hiện ra rằng sản phẩm của Sony có độ bền lâu hơn nhiều so với đối thủ. Tuy nhiên, không hiểu từ đâu một số người tiêu dùng Nhật Bản lại có niềm tin trái ngược. Theo trang web của Japan Subculture Research Center, người Nhật vẫn truyền nhau câu chuyện về “the Sony Timer”. The Sony Timer là gì? Đó là những đồn đại cho rằng mỗi sản phẩm mà Sony tạo ra đều được cài sẵn chương trình tự phá hủy, nghĩa là sau một khoảng thời gian sử dụng, thường là khi hết hạn bảo hành, sản phẩm sẽ bị hỏng hóc, buộc người dùng phải mua sản phẩm mới. Không rõ lời đồn đại này đúng hay không, song nhiều người tin đó là sự thật.


Tuy nhiên, theo nghiên cứu, sự thật là để giảm chi phí, các công ty Nhật Bản trong đó có Sony đã sản xuất sản phẩm ở nước ngoài, như ở Thái Lan hay Trung Quốc. Đó là lí do tại sao sản phẩm của họ không còn mác “Made in Japan” nữa. Rất khó để hướng dẫn người nước ngoài cách lắp ráp từng linh kiện. Điều này được cho là nguồn cơn của những đồn đại về "the Sony Timer".


Cách đây 2 năm, nếu muốn tìm một chiếc Ti vi Nhật Bản được sản xuất hoàn toàn tại Nhật, có thể chỉ còn những model Kageyama của Sharp. Nói về giá, chúng đắt hơn một chút, nhưng chúng hoàn toàn là hàng “Made in Japan”. Thậm chí Panasonic cũng có nhà máy ở nước ngoài. Nếu các linh kiện được sản xuất ở nước ngoài, nhưng sản phẩm cuối cùng lắp ráp tại Nhật, bạn có thể nói chúng là hàng “Made in Japan”. Chi phí đắt đỏ, nên các công ty thường sản xuất ở nước ngoài và lại nhập về Nhật Bản. Vẫn có một số lượng khán giả ít ỏi, khó tính chuộng hàng “Nhật xịn”, sẵn sàng trả giá cao hơn để sở hữu sản phẩm, nhưng Sony có vẻ đã mất đi những khán giả này.


Theo Hasegawa, một người từng viết sách về Sony và có nghiên cứu sâu về Sony, trước đây, người tiêu dùng Nhật Bản yêu thích các sản phẩm Nhật. “Nhưng gần đây, thị trường Nhật mở hơn và thị hiếu của người Nhật cũng thay đổi. Người Nhật từng chỉ thích Sony hay Toshiba, nhưng giờ họ so sánh các sản phẩm, và đôi khi họ chọn những sản phẩm nhập khẩu của nước ngoài”, ông nói.


“Thị trường toàn cầu đang phát triển nhanh, thậm chí các công ty Hàn Quốc hay Trung Quốc cũng có thể sản xuất những sản phẩm chất lượng cao mà trước đây chỉ có công ty Nhật mới thành công. Nhưng gần đây, tốc độ sáng tạo đi rất nhanh, vì thế Nhật mất dần vị thế lãnh đạo”, Hasegawa giải thích.


Theo ICTnews.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.