Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Các đại gia đua nhau cung cấp nội dung truyền hình OTT

Các đại gia đua nhau cung cấp nội dung truyền hình OTT

Xu thế của truyền hình OTT sẽ là truyền hình tương tác, truyền hình đa phương tiện và cá thể hóa nội dung hiển thị. Ảnh: Internet.



Dịch vụ truyền hình được truyền dẫn trên nền tảng Internet băng rộng hoặc 3G (truyền hình IPTV hay còn gọi là OTT) không còn là khái niệm xa lạ với người dùng Việt Nam. VTVcab là đơn vị đầu tiên cung cấp dịch vụ OTT với thương hiệu VTV Plus từ đầu năm 2013, sau đó là tới FPT Telecom cũng tung ra dịch vụ FPT Play từ tháng 10/2013, kế đó VTC cũng chính thức cung cấp dịch vụ ZTV, MyTV tung ra dịch vụ MyTVNet, VNPT cũng cung cấp dịch vụ qua thiết bị Android TV Box từ cuối năm 2013. Cuối năm 2014, SCTV cũng chính thức tham chiến khiến cho thị trường truyền hình OTT.


Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, khả năng truyền dẫn tín hiệu truyền hình trên nền Internet sẽ khiến thị trường truyền hình OTT bùng nổ trong những năm tới đây. Bởi nếu để cung câp dịch vụ truyền hình cáp việc đầu tư xây dựng hạ tầng rất lớn, VTVcab hay SCTV trong gần 20 năm mới đạt con số gần 2 triệu thuê bao. Trong khi đó cộng đồng khách hàng Internet ở Việt Nam đã lên tới gần 30 triệu hộ gia đình, chưa kể đến các kết nối Internet không dây qua mạng 3G và sắp tới là 4G có xu thế phát triển rất mạnh trong những năm tới. Nếu giữa các nhà cung cấp nội dung truyền hình và nhà mạng có thể bắt tay để đưa các nội dung đến với người dùng thì truyền hình OTT sẽ bùng nổ trong những năm tới.


Truyền hình OTT còn có ưu điểm là đảm bảo dịch vụ truyền hình kết nối với khách hàng không chỉ qua màn hình tivi mà còn qua các thiết bị khác như: máy tính bàn, máy tính bảng và điện thoại thông minh. Tuy nhiên, xu hướng xem truyền hình trên đa màn hình cũng đòi hỏi khác biệt về mặt nội dung so với truyền hình truyền thống. Người xem truyền hình không còn đơn thuần chỉ là xem các chương trình sẵn có trên truyền hình nữa, mà họ còn muốn tương tác nhiều hơn với nội dung mà họ yêu thích như like, share cho bạn bè, bình luận, mời bạn bè cùng xem, hoặc ở một mức độ cao hơn có thể nhúng các chương trình họ yêu thích vào một nội dung nào đó.


Theo ý kiến của nhiều người, xu thế của truyền hình OTT sẽ là truyền hình tương tác, truyền hình đa phương tiện và cá thể hóa nội dung hiển thị, đây là một xu thế không thể đảo ngược. Theo một số liệu nghiên cứu mới đây, trong năm 2014, 90% lượng truy cập Internet trên toàn cầu là video, riêng mạng Netflix (Mỹ) có 30% kết nối video.


Đây chính là lí do khiến các mạng chia sẻ video như Youtube đã rất thành công trong năm qua. Truyền hình OTT có xu hướng phát triển bởi cộng đồng khán giả ngày càng yêu thích những dịch vụ online hơn. Trên Internet, khách hàng sẽ tìm kiếm những nội dung mà họ yêu thích để xem theo ý mình, do đó, kì vọng phát triển dịch vụ video rất lớn. Hiện ở Việt Nam các nhà đài lớn như VTC, VTV đều đã có kênh chia sẻ nội dung riêng trên Youtube.


Hầu hết các nhà cung cấp truyền hình trả tiền đều cho rằng, tìm kiếm và xem video trên Internet là xu hướng không thể đảo ngược được của truyền hình OTT trong tương lai. Câu hỏi đặt ra là thị trường Việt Nam đã sẵn sàng thương mại hóa dịch vụ OTT hay chưa?


Đứng ở góc độ nhà cung cấp dịch vụ kết nối, nhà mạng viễn thông đương nhiên rất muốn tăng thêm doanh số trên cùng một sợi dây đến người dân, nên nhà mạng sẵn sàng kết nối dịch vụ OTT đến với khách hàng để tăng hiệu quả đầu tư.


Các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình nhìn thấy kết nối Internet là một cộng đồng rất lớn, băng thông ngày càng rộng, chất lượng ngày càng cao. Họ có thêm cơ hội kết nối với cộng đồng khán giả mới trên nền tảng đa màn hình, cùng một nội dung xem trên nhiều màn hình sẽ tăng lượng khán giả, vươn đến lượng khá giả rộng hơn trên cùng một kết nối băng rộng.


Điều này chỉ còn phụ thuộc vào việc nhu cầu sử dụng của khách hàng thế nào và họ đã sẵn sàng trả phí để tải các video hay sử dụng dịch vụ truyền hình tương tác đến đâu? Câu trả lời lại nằm ở chỗ nhà cung cấp hạ tầng phải cải tạo để tăng chất lượng truyền video, mới có khả năng thu tiền của khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ truyền hình phải đối mặt với thói quen nghe xem, ai hiểu nhu cầu khách hàng, cung cấp những nội dung đúng thị hiếu khán giả người đó sẽ thắng.


Ở một góc độ khác, OTT thường được hiểu là truyền hình không cần đầu tư hạ tầng, nhưng thực chất nhà mạng phải đầu tư rất nhiều tiền cho hạ tầng băng rộng, cho nên nếu các nhà cung cấp nội dung muốn có chất lượng tốt phải có hợp đồng với nhà mạng hoặc có một thỏa thuận hợp tác kinh doanh dịch vụ để đảm bảo băng thông sẽ có chất lượng truyền hình tốt hơn. Còn trong trường hợp OTT cứ chạy miễn phí trên hạ tầng của nhà mạng phải chấp nhận tín hiệu lúc được lúc mất.


Bên cạnh đó, các nhà cung cấp dịch vụ nội dung OTT đang chờ một hành lang pháp lí rõ ràng. Bởi nếu OTT không được kiểm sóat chất lượng, không có những quy định về bản quyền các nhà cung cấp nội dung sẽ rất e ngại không dám đầu tư cung cấp nội dung lên Internet. Việc vi phạm bản quyền nội dung trên Internet quá dễ dàng, một video vừa đăng lên có khi đã bị mang link đi dán khắp nơi, trong khi các đầu tư bài bản có thể tốn nhiều triệu USD.


Đối với việc thương mại hóa dịch vụ OTT ở Việt Nam: Công nghệ truyền dẫn cũng như khả năng cung cấp nội dung đã sẵn sàng, chỉ còn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng của người dùng và khả năng sẵn sàng trả phí của họ đến đâu mà thôi.


Theo ICTnews.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.