Thứ Hai, 16 tháng 2, 2015

“Phát ngôn viên không chính thức” của Anonymous bị kết án

“Phát ngôn viên không chính thức” của Anonymous bị kết án

Brown tự coi mình là phát ngôn viên không chính thức của nhóm tin tặc Anonymous.



Bị bắt giam với 8 cáo buộc nhưng Barrett Brown chỉ bị kết án với 3 điểm buộc tội gồm: đồng lõa trong tiếp cận máy tính được bảo vệ mà không có thẩm quyền, đe dọa nhân viên công vụ, can thiệp trong quá trình khám xét. Tổng cộng, Brown có thể phải ở tù thêm 2 năm nữa và phải nộp tiền phạt 890.000 USD.


Brown bị bắt năm 2012 tại nhà riêng ở thành phố Dallas, chỉ vài giờ sau khi tung một đoạn video lên YouTube đe dọa ông Robert Smith, một đặc vụ Cục Điều tra Liên bang (FBI).


Trong đoạn video có tiêu đề "Lí do tại sao tôi sẽ hủy hoại đặc vụ FBI Robert Smith". Anh ta dọa sẽ đâm bất kì một đặc vụ FBI nào dám quấy nhiễu anh ta hay mẹ anh ta, dọa sẽ tàn phá cuộc sống của Robert Smith và tìm "mấy đứa con chết tiệt của ông ta".


Anh ta nói: "Cuộc sống của Robert Smith đã chấm dứt. Khi tôi nói cuộc sống của ông ta kết thúc, không có nghĩa là tôi sẽ giết ông ta, nhưng tôi sẽ hủy hoại cuộc đời ông ta".


Ngoài ra, Brown cũng đưa ra một số lời đe dọa trên Twitter với đặc vụ Smith như dọa sẽ công bố địa chỉ và các thông tin khác về đặc vụ này trên mạng trừ khi FBI trả lại máy tính xách tay và các tài sản khác mà họ đã tịch thu của anh ta.


Anh ta viết ngày 10/9/2012: "Nếu không nhận được cuộc gọi từ đặc vụ Smith nói rằng máy tính của tôi đang trên máy bay về Dallas thì tôi sẽ công bố thông tin".


Trước đó, Brown còn bị cáo buộc tội chia sẻ một đường dẫn có địa chỉ thư điện tử và số thẻ tín dụng ăn cắp từ một diễn đàn này sang một diễn đàn khác.


Địa chỉ thư và số thẻ tín dụng này là những thứ mà AntiSec, một chi nhánh của nhóm tin tặc Anonymous, ăn cắp từ công ty tình báo tư nhân Stratfor ở Texas.


Cáo buộc này gây tranh cãi và vì sau bị bác bỏ. Bên công tố cho rằng hành vi chia sẻ đường dẫn không khác nào tội buôn hàng hóa ăn cắp.


Còn bên bào chữa cho rằng đó chỉ đơn giản là đưa lại một đường dẫn và ví von "chỉ cho người khác biết chỗ tìm tranh khiêu dâm trẻ em không phải là hành vi buôn bán tranh khiêu dâm trẻ em". Về sau, cáo buộc này bị tòa bác bỏ năm 2013.


Về mối liên hệ với nhóm tin tặc Anonymous, công tố viên đã khiến nhóm bào chữa của Brown "ngớ người" khi công bố tới 500 trang bằng chứng nhằm khép anh ta vào khung hình phạt cao nhất.


Bằng chứng mới là hàng trăm đoạn hội thoại mà Brown trao đổi với các tin tặc được FBI tìm thấy trong máy tính của Brown.


Qua đó, họ cho rằng Brown là nhân vật trung tâm của một trong những vụ tấn công mạng nổi tiếng nhất của nhóm Anonymous từ trước đến nay vào Công ty Stratfor.


Mọi việc bắt nguồn từ khi Brown thành lập một công ty tư vấn Internet tên là Project PM năm 2009 nhằm điều tra các nhà thầu tư nhân làm việc trong một số lĩnh vực nhạy cảm như an ninh mạng, tình báo và giám sát.


Sau đó, năm 2010, trang WikiLeaks công bố hàng nghìn tài liệu mật của Chính phủ Mỹ. Cùng thời điểm đó, Anonymous bắt đầu hoạt động mạnh mẽ.


Nhóm này tấn công mạng nhằm vào Church of Scientology (Nhà thờ Khoa học giáo), tuyên bố bảo vệ WikiLeaks bằng cách tuyên chiến trên mạng với các hãng thẻ thanh toán như Paypal và Visa - hai hãng đã chặn nguồn tài chính của trang WikiLeaks dưới sức ép của Chính phủ Mỹ.


Brown cho rằng giữa Project PM, WikiLeaks và Anonymous có cùng quan điểm, mục đích. Anh ta tin rằng WikiLeaks đang phụng sự loài người một cách vĩ đại.


Đối với Anonymous, Brown coi nhóm tin tặc này là chưa từng có tiền lệ. Từ lâu, anh ta đã liên hệ trực tiếp với Anonymous.


Đầu năm 2011, anh ta phối hợp cùng với một số tin tặc lão luyện nhất của nhóm này với tư cách kiểu như là một nhân viên báo chí.


Brown không biết kĩ năng về xâm nhập máy tính nhưng có khả năng viết lách thiên bẩm và tài hùng biện. Thỉnh thoảng, các tin tặc ăn cắp dữ liệu và gửi cho anh ta.


Ảnh

Brown tự coi mình là phát ngôn viên không chính thức của nhóm tin tặc Anonymous.



Anh ta sẽ vùi đầu ngày đêm ở nhà để tìm hiểu tài liệu, viết blog, gửi thông tin cho báo chí. Anh ta cũng thực hiện phỏng vấn trên truyền hình để công kích các sáng kiến an ninh mạng của chính phủ mà huênh hoang rằng Anonymous sẽ đập tan.


Khi nhóm AntiSec của Anonymous gây chấn động với cuộc tấn công mạng vào hệ thống của Stratfor hồi tháng 12/2011, tấn công công ty luật ở Virginia, Brown đã hô hoán với phóng viên toàn thế giới về vụ việc.


Anh ta nói với tờ Time rằng hàng triệu thư điện tử bị đánh cắp có thể là "đầu mối giải quyết một số vụ án có tầm quan trọng bất thường".


Phần lớn những gì Brown nói đều bị phóng đại nhưng với tài nói năng của mình, thông tin của Brown vẫn được quan tâm.


Khi nhóm này tung hàng nghìn số thẻ tín dụng của khách hàng Stratfor lên mạng, Brown đã chia sẻ đường dẫn tới kho số thẻ này và đây là một hành vi khiến anh ta bị kết án.


Khi công khai ủng hộ nhóm tin tặc bị cáo buộc thực hiện nhiều hành vi tội phạm trên không gian mạng, Brown tự đẩy mình vào tầm ngắm của pháp luật. Đến lúc đó, mọi thứ đã quá muộn với Brown.


Theo Cand.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.