Chủ Nhật, 22 tháng 2, 2015

Forrester: Quảng cáo trên Facebook rất phí tiền

Forrester: Quảng cáo trên Facebook rất phí tiền

Facebook là trang mạng xã hội đi tiên phong trong công cuộc thúc đẩy doanh thu quảng cáo qua nền tảng của mình. Các trang mạng khác cũng “rục rịch” theo chân trang mạng khổng lồ này.


Các nhà tiếp thị phàn nàn đã đến thời kì mà phương pháp tiếp cận khách hàng tự nhiên không còn tồn tại trên phương tiện truyền thông xã hội và các thương hiệu phải trả tiền quảng cáo nếu họ muốn thu hút khách hàng tiềm năng của mình.


Hiện thực này ngày càng gia tăng trong vòng 12 tháng qua, đặc biệt là đối với trường hợp Facebook. Giờ đây, các nhà quảng cáo coi Facebook “không khác một mạng lưới quảng cáo trả tiền là mấy”. Tuy nhiên, không chỉ có Facebook, sắp tới có thể Twitter cũng sẽ trở thành một mạng lưới “muốn quảng cáo phải trả tiền”, vì gần đây trang mạng này cũng đã úp mở kế hoạch thu tiền thông qua quảng cáo.


Ảnh

Một thông tin quảng cáo trên mạng xã hội Facebook



Điều này đồng nghĩa với việc người dùng sẽ không còn thấy các bài đăng tweets liên tục trong phần cập nhật tin tức mà thay vào đó, Twitter sẽ hiển thị nội dung được cho là quan trọng hoặc phù hợp với người dùng.


Rõ ràng mục đích là để người dùng có thêm nhiều trải nghiệm. Nhưng nhìn từ khía cạnh khác, hành động này có thể xem như Twitter cũng muốn thu lợi nhuận quảng cáo từ các nhãn hiệu bằng cách hạn chế khả năng tiếp cận người dùng tự nhiên của họ.


Nhiều nhà quảng cáo băn khoăn về lí do khiến cách thức tiếp cận tự nhiên giảm hiệu quả. Băn khoăn này đã được giải đáp bằng một tài liệu nghiên cứu do Forrester công bố vào tháng 10 năm 2013.


Bản báo cáo được mở đầu bằng một nhận định có thể làm “mích lòng” trang mạng xã hội Facebook: Các nhà quảng cáo đang rất thất vọng với Facebook. Theo kết quả khảo sát tiến hành trên 395 nhà quảng cáo, Forrester phát hiện ra rằng Facebook tạo ra ít giá trị và cơ hội kinh doanh nhất trong số tất cả các trang mạng xã hội.


Nhà phân tích báo cáo của Forrester, Nate Elliot, cho biết sự thất vọng này bắt nguồn từ việc Facebook chưa nhắm đúng mục tiêu cần quảng cáo, không sử dụng dữ liệu xã hội hợp lí, và không biết tận dụng cách thức tiếp cận tự nhiên.


Ông cho biết thêm: "Khi người dùng nhấp chuột vào nút “thích” vào một nhãn hiệu nào đó được quảng cáo trên Faceook, tức là họ muốn nhận được thông tin cập nhật của nhãn hiệu đó. Nhưng tính trung bình, các nhãn hiệu chỉ tiếp cận được 16% lượng khách hàng quan tâm đến sản phẩm của mình."


Một báo cáo độc lập khác được Ogilvy công bố vào tháng Ba năm nay cho thấy mức độ tiếp cận tự nhiên trên các trang quảng cáo chỉ còn 6%, giảm mạnh so với con số 12% vào tháng Mười năm 2013.


Tình hình thậm chí còn ảm đạm hơn cho các trang có số lượng người theo dõi chưa đạt đến 500. Đối với những trang này, mức độ tiếp cận tự nhiên giảm từ 4% xuống còn 2,1%. Ogilvy cũng trích "một nguồn tin giấu tên từ Facebook" cho biết chỉ một thời gian ngắn nữa mức độ tiếp cận tự nhiên sẽ trở lại con số 0.


Ogilvy không nhất thiết phải công bố thông tin là từ “một nguồn giấu tên từ Facebook”, vì Facebook đã tương đối cởi mở về kế hoạch hạn chế cách thức tiếp cận tự nhiên của mình. Cuối năm 2013, trong một chương trình dành cho các đối tác quảng cáo, Facebook tuyên bố: "Chúng tôi hi vọng mức độ cách thức tiếp cận tự nhiên của một bài đăng trên trang cá nhân sẽ giảm dần theo thời gian, khi chúng tôi nỗ lực hết mức để mang lại những trải nghiệm đầy ý nghĩa cho người dùng Facebook."


Thực tế, các nhãn hiệu đang phải chen chân trên một nền tảng truyền thông xã hội quá chật chội, vì những nội dung của nhà quảng cáo và bạn bè của người dùng luôn xuất hiện đầu tiên trong mục cập nhật tin tức bạn bè. Mặc dù Faceook không còn là công cụ miễn phí cho các nhà quảng cáo tiếp cận người dùng, nhưng thay vào đó, quảng cáo có hiệu quả hơn vì chúng mang lại bối cảnh xã hội lớn hơn cho người dùng.


Báo cáo của Facebook cho biết thêm: "Khi những mục quảng cáo của bạn thể hiện được bối cảnh xã hội, điều đó cũng đồng nghĩa với việc quảng cáo của bạn hiệu quả hơn."


“Muốn quảng cáo phải trả tiền” sẽ thống trị trong tương lai?


Mạng xã hội Twitter

Theo số liệu thu thập được từ nền tảng phân tích mới của Twitter, tính trung bình, những mẩu tin tweet chỉ tiếp cận được 10% lượng người theo dõi, vì chúng nhanh chóng bị những mẩu tin khác choán chỗ.


Như đã đề cập ở trên, Twitter đang lập kế hoạch để đạt được doanh thu lớn từ quảng cáo, đồng thời có kế hoạch quản lí nổi dung hiển thị trong phần cập nhật tin tức của người dùng. Vì vậy, những nhà quảng cáo muốn dùng Twitter làm công cụ tiếp cận người dùng sẽ thấy cách thức tiếp cận tự nhiên càng giảm hiệu quả hơn nữa.


Mạng xã hội hình ảnh Pinterest

Cuối cùng, Pinterest cũng quyết định thu lợi nhuận trên nền tảng của mình thông qua dịch vụ quảng cáo qua ghim được đề xuất (“promoted pins”) mà công ty công bố vào tháng Sáu. Hiện tại công ty vẫn đang tiếp tục bổ sung tính năng cho dịch vụ quảng cáo này. Đây có thể là sự khởi đầu của việc hạn chế nội dung quảng cáo tiếp cận người dùng. Hiện công ty được định giá ở mức 3,8 tỉ USD.


Chúng ta đã được chứng kiến việc Google sẵn sàng gỡ bỏ đặc quyền của các dịch vụ miễn phí - chẳng hạn như giấu dữ liệu từ khóa trong các công cụ Google Analytics, nhằm thúc đẩy doanh thu quảng cáo.


Tuy nhiên, chưa thể khẳng định cách thức tiếp cận tự nhiên đã đến hồi kết. Vào tháng Tư, một nghiên cứu mới đây cho thấy mặc dù nhiều nhà quảng cáo sử dụng Facebook đã chứng kiến sự sụt giảm của cách tiếp cận tự nhiên, 1% các trang vẫn đạt tỉ lệ tiếp cận 82% lượng người dùng. Con số tiếp cận người dùng giảm có thể chỉ đơn giản là nội dung của bạn chưa tiếp cận được đúng đối tượng, và nó cũng gắn liền với mục tiêu kinh doanh dài hạn, chứ không phải là theo đuổi thành công ngắn hạn.


Cuối cùng, chúng ta vẫn cần thời gian quan sát và kiểm chứng cách thức các trang mạng xã hội thu lợi nhuận từ công cụ của họ, và tác động của việc này đến các nhà quảng cáo trực tuyến.


Theo Infonet.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.