Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015

Con người dùng chất gây nghiện từ thời tiền sử

Con người dùng chất gây nghiện từ thời tiền sử

Anh túc là một trong những loài thực vật gây ảo giác mà con người biết đến đầu tiên.



Elisa Guerra-Doce, giáo sư ngành nhân chủng học tại Đại học Valladolid ở Tây Ban Nha, vừa công bố các bằng chứng cho thấy loài người sử dụng thuốc phiện từ thời Đồ đá, Daily Mail đưa tin.


Theo bà, con người bắt đầu chiết xuất chất gây ảo giác từ cây xương rồng vào năm 8600 trước Công nguyên (TCN) và trồng cây thuốc phiện vào khoảng năm 6000 TCN. Bà phát hiện bằng chứng về việc trồng cây thuốc phiện tại Italy, Thụy Sĩ, Đức và Tây Ban Nha.


Nữ giáo sư cũng tìm thấy dấu vết thuốc phiện trên răng của một bộ xương nam trong một hang động gần thị trấn Albuñol, tỉnh Granada, Tây Ban Nha. Người đàn ông đó sống từ khoảng năm 4000 TCN.


Ảnh

Echinopsis pachanoi là loài xương rồng chứa chấy gây ảo giác.



Trong một bài báo trên tạp chí Time and Mind, Guerra-Doce viết: “Ngoài các bằng chứng về việc người cổ đại sử dụng chúng như lương thực, các phát hiện khác cho thấy họ còn khai thác đặc tính gây nghiện của chúng”.


Một số bằng chứng có niên đại khoảng từ năm 8600 đến năm 5600 TCN chứng tỏ những cư dân cổ xưa sống trong các hang động ở thung lũng Callejon de Huaylas, Peru, sử dụng Echinopsis pachanoi, một loại xương rồng chứa chất mescaline gây ảo giác.


Các nhà khảo cổ phát hiện dấu vết của xương rồng và phấn hoa tại hang Guitarrero trong khu vực. Họ cũng tìm thấy vết màu đỏ trên hàm răng của một thi thể được chôn cất từ 13.000 năm trước trong hang Duyong trên đảo Palawan ở phía nam Philippines. Các nhà nghiên cứu phỏng đoán vết màu đỏ hình thành từ việc nhai lá trầu. Ngày nay, người dân ở một số nước châu Á vẫn ăn trầu, loại lá chứa chất kích thích nhẹ.


Ảnh

Các nhà khảo cổ phát hiện hàm răng của người tiền sử có vết đỏ do nhai trầu trong một hang động ở Philippines.



Đến thời kì Đồ đồng, con người sống trên sa mạc Kara Kurum thuộc Turkmenistan sử dụng cần sa và thuốc phiện trong các nghi lễ. Giới khảo cổ tìm thấy hạt cần sa cháy trong một cái bát thuộc nền văn hóa Pit-Grave thời đồ đồng ở Romania vào năm 2100 TCN. Ngoài ra, họ cũng phát hiện chất nicotine trên sợi tóc của các xác ướp tồn tại trong nhiều thế kỉ trước khi người châu Âu đến Nam Mỹ.


Tại Bắc Mỹ, tẩu thuốc xuất hiện từ khoảng năm 2000 TCN mặc dù cũng có thể người ta sử dụng nó để hút loại cây khác. Tại đây, giới nghiên cứu còn tìm thấy chất nicotine trong một tẩu thuốc có niên đại vào năm 300 TCN.


Ảnh

Người tiền sử ở nhiều nước châu Âu và Trung Mỹ từng sử dụng nấm ma thuật gây ảo giác trong thời kì lâu dài.



Giáo sư Guerra-Doce cho hay nấm ma thuật từng được sử dụng khá phổ biến nhưng nó đã biến mất trong lịch sử. Theo các hình chạm khắc trên những mỏm đá vào thời kì Đá mới vào thời đại Đồ đồng ở phía tây bắc vùng Piedmont, Italy, người xưa dùng chúng trong các nghi lễ.


Dấu vết về các loại nấm gây ảo giác cũng xuất hiện trên một số tác phẩm điêu khắc nhỏ có niên đại từ năm 500 TCN đến năm 900 Sau CN ở Guatemala, Mexico, Honduras và El Salvador.


Giáo sư Guerra-Doce tin rằng thay vì mục đích giải tỏa căng thẳng như ngày nay, người tiền sử dùng chất gây nghiện trong các nghi thức, nghi lễ. Hầu hết các dấu vết họ tìm thấy đều nằm trong các ngôi mộ và những khu vực từng mang ý nghĩa tôn giáo.


Ảnh

Các nhà nghiên cứu tìm thấy bằng chứng cho thấy con người đã hút cây thuốc lá trong hàng nghìn năm.



Đến nay giới nghiên cứu vẫn chưa tìm hiểu các chi tiết về nghi lễ. Họ đưa ra giả thuyết rằng người ta sử dụng chất gây ảo giác tại tang lễ nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho người đã khuất trong hành trình đến thế giới bên kia hoặc đây là đồ cống nạp cho các vị thần cai quản địa ngục.


Bà tin rằng xã hội tiền sử hạn chế việc sử dụng chất kích thích vì vai trò thiêng liêng của chúng. Tuy nhiên, bà khẳng định: “Con người đã dùng chất gây ảo giác từ nhiều thiên niên kỉ trước”.


Theo Zing.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.