Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

VNPT, Viettel, VTC... băn khoăn về Chương trình phát triển công nghiệp CNTT

VNPT, Viettel, VTC... băn khoăn về Chương trình phát triển công nghiệp CNTT

Tọa đàm về Chương trình Phát triển công nghiệp CNTT đến năm 2020 do Bộ TT&TT tổ chức sáng nay, 25/6/2014 thu hút sự quan tâm tham gia của rất nhiều "đại gia" trong lĩnh vực CNTT Việt Nam như VNPT, Viettel, FPT, CMC, VTC, Viettronics...


Phát biểu khai mạc Tọa đàm Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng khẳng định thời gian qua, công nghiệp CNTT luôn là một trong những ngành kinh tế có doanh số và tỉ lệ tăng trưởng cao hơn nhiều so với các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều trăn trở về việc thúc đẩy hơn nữa sự phát triển công nghiệp CNTT như hầu hết doanh số của công nghiệp phần cứng vẫn thuộc về doanh nghiệp FDI, hàm lượng giá trị gia tăng đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam còn thấp hoặc chúng ta vẫn chưa có nhiều sản phẩm, dịch vụ giải pháp CNTT "made in Vietnam" được thế giới công nhận.


Trong khi ddos, ở một số lĩnh vực khác, doanh nghiệp được Nhà nước cấp tài nguyên cho hoạt động thì trong lĩnh vực CNTT, hầu như các doanh nghiệp vẫn phải tự bươn chải trong môi trường cạnh tranh khốc liệt để phát triển sản phẩm, dịch vụ của mình. Bởi vậy, dự thảo Chương trình Phát triển công nghiệp CNTT đến năm 2020 đã được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển của lĩnh vực CNTT.


Đánh giá cao dự thảo Chương trình Phát triển công nghiệp CNTT đến năm 2020 do Vụ CNTT, Bộ TT&TT xây dựng, tuy nhiên các doanh nghiệp điện tử, CNTT vẫn còn nhiều băn khoăn về dự thảo này.


Ông Nguyễn Phước Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam nhận xét: "Những nội dung liên quan đến sản phẩm công nghiệp phần cứng còn khá sơ sài, vẫn chưa hình thành được mục tiêu cụ thể dành cho công nghiệp phần cứng. Bộ TT&TT cần đứng ra chủ trì kết nối để các doanh nghiệp về phần cứng của Việt Nam có thể ngồi với nhau để bàn cách thúc đẩy phát triển công nghiệp phần cứng một cách hiệu quả".


Ông Bùi Mạnh Hải, Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam lưu ý thêm: "Về mục tiêu phát triển công nghiệp phần cứng, nên chọn một số mũi nhọn trọng điểm để phát triển theo định hướng sớm tự chủ tự lực về công nghệ để đảm bảo quốc phòng an ninh, không nên đi theo hướng hỗ trợ phát triển để có sản phẩm xuất khẩu bởi chắc chắn doanh nghiệp Việt Nam không thể cạnh tranh được với những "ông lớn" như Samsung, Toshiba, Intel...".


Ở góc nhìn khác, ông Tống Viết Trung, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel đề nghị dự thảo Chương trình Phát triển công nghiệp CNTT đến năm 2020 cần chú trọng nhiều hơn tới việc khai thác thị trường trong nước, nên tiếp tục phát huy những phương thức mới như hợp tác Công - Tư (PPP), cho thuê dịch vụ,... nhằm kích cầu cho nền CNTT trong nước phát triển. Bên cạnh đó, cần để ý hơn tới môi trường cho CNTT phát triển, ví dụ như sớm cấp phép 4G để đẩy nhanh nhu cầu mới về ứng dụng CNTT trên nền 4G.


Các doanh nghiệp khác như VNPT, CMC, VTC, Viettronics, MISA... cũng đề xuất những vướng mắc cụ thể trong thực tế đang cần sự hỗ trợ giải quyết bằng cơ chế, chính sách khả thi.


Tiếp thu ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp, hiệp hội, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng đề nghị các doanh nghiệp, hiệp hội tiếp tục góp ý để Bộ TT&TT hoàn thiện dự thảo Chương trình Phát triển công nghiệp CNTT đến năm 2020. Dự kiến, cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 2014, dự thảo này được Bộ TT&TT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.



Một số giải pháp đáng chú ý trong dự thảo Chương trình Phát triển công nghiệp CNTT đến 2020:

+ Tập trung nguồn lực để nghiên cứu phát triển, sản xuất các sản phẩm phần cứng - điện tử và sản phẩm, thiết bị CNTT mang thương hiệu Việt Nam để thay thế hàng nhập khẩu, đặc biệt là trong lĩnh vực viễn thông.


+ Hình thành một số doanh nghiệp CNTT mạnh, có quy mô lớn, sức cạnh tranh cao, có khả năng nghiên cứu phát triển và sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ CNTT quan trọng thông qua cơ chế đặt hàng doanh nghiệp sản xuất 1 số sản phẩm trọng điểm và được chỉ định thầu tham gia 1 số dự án lớn của Nhà nước.


+ Các cơ quan Nhà nước đẩy mạnh thuê ngoài dịch vụ CNTT, ưu tiên sử dụng dịch vụ CNTT do doanh nghiệp Việt Nam cung cấp.


+ Các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực CNTT được ưu tiên vay vốn từ Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.