Thứ Tư, 25 tháng 6, 2014

Các doanh nghiệp Mỹ dẫn đầu mảng thiết bị đeo

Các doanh nghiệp Mỹ dẫn đầu mảng thiết bị đeo

Thiết bị đeo (wearable) ngày nay xuất hiện gần như ở khắp mọi nơi. Mùa hè này cũng chính là thời điểm “nóng” nhất vì nhiều hãng công nghệ tên tuổi như Google, Motorola, LG, Microsoft,.... đều lần lượt tung ra những mẫu smartwatch mới của mình. Sự nở rộ các thiết bị đeo như smartwatch, smart glass cùng các thiết bị theo dõi sức khỏe đã cho thấy rõ ràng các thiết bị điện tử tiêu dùng có thể đeo trên cơ thể người sẽ trở nên một làn sóng mới, áp đảo nhiều thiết bị khác.


Nếu như nhiều công ty trên thế giới chọn lựa cải tiến công nghệ để dẫn đầu trong các mảng như viễn thông, năng lượng, xe hơi hay y sinh học - thì hầu như các doanh nghiệp lớn nhỏ ở thị trường Mỹ gần như chỉ tập trung vào đẩy mạnh phát triển công nghệ ứng dụng cho các thiết bị đeo. Lí do xuất hiện sự phân chia này bắt nguồn từ những đổi mới, phát triển hệ sinh thái tại thị trường Mỹ đã giúp các doanh nghiệp có thêm nhiều ý tưởng sáng tạo mới. Điều này không chỉ đúng đắn với các “tên tuổi” lớn như Google hay Apple mà còn đúng cả cho những công ty đang phát triển các thiết bị đeo mới nổi lên gần đây.


Bên cạnh đó, một lí do khác không ít phần quan trọng chính là những môi trường giáo dục lớn như Berkeley, Stanford, Carnegie Mellon và MIT còn được xem là những vườn ươm công nghệ - mang đến cho các công ty mới tại thị trường này nhiều cơ hội tận dụng chính tài nguyên của nhà trường để phát triển. Nói khác đi, các kĩ sư từ những doanh nghiệp mới này ít gặp rủi ro về vấn đề tài chính hơn trong quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm mới của họ.


Không chỉ vậy, các nhà sản xuất thiết bị đeo còn phối hợp rất ăn ý với Crowdfunding, một hình thức gây vốn từ cộng đồng vốn được xem là cách xin cấp vốn ưu việt hơn cách thức truyền thống. Minh chứng cụ thể cho trường hợp này chính là Pebble. Công ty này đã kêu gọi đầu tư được hơn 10,2 triệu USD từ mảng thiết bị smartwatch của mình dù mục tiêu mà hãng đặt ra chỉ vỏn vẹn 100.000 USD. Không chỉ riêng Pebble, Oculus với sự trợ giúp từ công ty huy động vốn đại chúng Kickstarter đã có được hơn 2 triệu USD tiền góp vốn và mới đây, công ty hàng đầu về công nghệ thực tế ảo đã chính thức “về với đội” Facebook với số tiền đầu tư từ hãng này lên đến 2 tỉ USD.


Riêng với thị trường Châu Âu, phải nói là gần như các doanh nghiệp đang trong giai đoạn khởi động không được hưởng lợi từ sự đa dạng của các nguồn tài trợ như các doanh nghiệp tại thị trường Mỹ. Thay vào đó, Ở Châu Âu, sự sáng tạo thường xuyên phải “vật lộn” để nhận được tài trợ từ chính phủ. Chính vì điều này mà tinh thần sáng tạo cho các công nghệ mới như wearable của các công ty này cũng suy giảm rất nhiều. Nhưng công bằng mà nói, Châu Âu đã vượt xa các thành tích của Mỹ trong các lĩnh vực về năng lượng bền vững, thiết kế ô tô và y sinh học.


Vẫn biết rằng sự tài trợ từ chính phủ là một phần quan trọng trong công cụ đổi mới Châu Á. Song, các doanh nghiệp đang trong giai đoạn khởi động với nhóm thiết bị đeo và công nghệ liên quan vẫn không phải là những đối tượng chính được quan tâm. Điều này cho thấy chỉ những gã khổng lồ trong ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng ở Châu Á như Samsung, Sony hay LG sẽ chi phối sự phát triển của công nghệ và thiết bị đeo ở đó. Dù vậy, Trung Quốc lại là một ngoại lệ vì sự bùng nổ các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng trên quốc gia này. Có thể nói, trong tương lai, sẽ có không ít các thiết bị đeo được thiết kế ngay tại chính quốc gia này.


Một điều rõ ràng là sự cải tiến công nghệ đang diễn ra trên toàn thế giới. Song, khi nói đến những thiết bị đeo cũng như một số thành phần công nghệ và những nền tảng giúp hình thành nên wearable, các công ty tại Mỹ vẫn đang đi đầu và tiếp tục giữ vững vị thế này.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.