Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Điều gì sẽ xảy ra khi Facebook “chết”?

Điều gì sẽ xảy ra khi Facebook “chết”?

1. Không còn nơi nào để "tự sướng"



Đây có thể xem là điều kinh khủng nhất của cộng đồng mạng, đặc biệt là phái nữ. Việc chụp ảnh "selfie" tự sướng rồi post lên Facebook với những dòng caption (miêu tả) dù mùi mẫn nhưng không mấy liên quan đến bức ảnh đã trở thành một thói quen thường ngày của các "Facebooker".


Quan trọng hơn cả, Facebook lại là nơi tốt nhất có thể giúp những bức ảnh "tự sướng" dễ được nhiều người nhìn thấy nhất và dễ được "thích" nhất. Trong khi đó với nhiều người, những bức ảnh của họ càng được nhiều "like" thì lại càng chứng minh được họ đang nhận được rất nhiều sự quan tâm.


Mặt khác việc mất đi Facebook cũng là mất đi công cụ để các hot boy, hot girl trở nên nổi hơn, được nhiều người biết đến hơn. Ngay cả những những bức ảnh tầm phào như khoảnh khắc đi từ tầng 2 xuống tầng 1 hay mua một gói bim bim vẫn tràn lan trên Facebook hàng ngày cũng mất đi nơi tốt nhất để "sinh sống".


2. Mất hết những người bạn "chưa từng gặp"



Facebook là là cách dễ tìm bạn cũ và dễ kết bạn mới hơn cả trên Yahoo hay cả các diễn đàn, forum khác. Chính vì vậy Facebook trở thành nơi giúp người sử dụng có được nhiều bạn bè nhất, trong đó có bạn thật và cả bạn... "ảo".


Việc mất đi Facebook sẽ kéo theo việc bạn sẽ bị mất đi một loạt những người bạn mà có thể bạn chưa từng gặp bao giờ mà chỉ mới giao tiếp với họ bằng cách duy nhất là thông qua Facebook. Và đây cũng sẽ là điều kinh khủng nhất đối với những người đang "chìm" trong cuộc sống ảo, hàng ngày sử dụng ngôn ngữ ảo để giao tiếp với người cũng "ảo" nốt.


3. Mất công cụ liên lạc nhanh chóng nhất


Hiện nay Facebook có tới 1,32 tỉ người dùng Facebook hàng tháng và 829 triệu người dùng hàng ngày. Nhà nhà người người dùng Facebook, không bằng máy tính thì bằng điện thoại nên hầu như ai cũng "có mặt" ở trên mạngxã hội này.



Vì vậy để nhanh hơn và tiện hơn cả việc mở danh bạ, tìm số và nhấn nút gọi thì người ta có thể "gọi" nhau ngay trên Facebook để có thể nói chuyện một cách dễ dàng nhất.


Chính vì vậy nếu không còn Facebook, con người sẽ phải nói chuyện với nhau một cách trực tiếp hoặc sẽ phải tốn nhiều tiền điện thoại hơn, hoặc kết nối thông tin với nhau cũng trở nên chậm trễ hơn do phải dùng đến những loại phương tiện khác.


4. Lượng người thất nghiệp tăng đột biến



Mất đi Facebook sẽ khiến cho dân buôn bán, đặc biệt là chuyên buôn bán online trên Facebook bị mất đi cả một phân khúc thị trường rộng lớn, đó là những người chuyên mua sắm trực tuyến trên mạng xã hội.


Từ những người bán hàng quần áo, đồ ăn, hoa quả... cho tới cả những người chuyên thanh lí đồ cũ vốn được hưởng lợi lớn từ Facebook cũng sẽ trở nên "hụt hẫng" khi không còn nơi để có thể quảng cáo, rao vặt miễn phí và buôn bán miễn thuế như ở đây. Vì vậy chuyện những con buôn "online" thất nghiệp là hoàn toàn có thể xảy ra.


Chưa kể những nhân viên SEO phụ trách kênh mạng xã hội cũng sẽ phải chuyển mảng và thậm chí là chuyển nghề bởi sự "ra đi" của Facebook. Chưa kể Mark Zekerburg và toàn bộ nhân viên của ông cũng sẽ phải tìm kiếm một cơ hội việc làm khác cho mình.


5. Không ai còn nhớ sinh nhật của bạn bè mình


Khi người sử dụng Facebook online và nhận được thông báo hôm nay là sinh nhật của một người bạn nào đó mới nhớ ra để chúc mừng sinh nhật có thể là chuyện bình thường, nhưng vấn đề là khi mất đi Facebook thì sẽ không còn ai nhắc bạn về những ngày trọng đại như vậy nữa.



Chính vì vậy hoặc là bạn sẽ bị nhiều người giận đễn nỗi không còn muốn nhìn mặt vì bạn đã quên mất ngày sinh nhật của họ, hoặc là bạn sẽ phải viết chi chít lên lịch hoặc ghi nhớ dày đặc trong điện thoại để không lỡ mất những ngày này.


6. Mất đi nguồn thông tin phong phú, nhanh và hiệu quả nhất


Nhiều người giờ đây dùng Facebook mục đích chủ yếu là để cập nhật tin tứctrong nước, thế giới rồi cập nhật tin tức của gia đình, bạn bè bởi tin tức trên Facebook ngày một phong phú hơn và đa chiều hơn.



Mặt khác Facebook cũng đang dần trở thành một nguồn tin truyền tải thông tin nhanh, hiệu quả nhất so với các nguồn tin khác. Vì vậy mà có nhiều ý kiến cho rằng trong tương lai Facebook hay mạng xã hội sẽ còn "hạ gục" cả báo điện tử hay cả các loại forum, diễn đàn khác.


Vì vậy mà khi Facebook không còn thì cộng đồng mạng cũng mất đi một trong những nguồn thông tin mà họ đang chuộng dùng nhất hiện nay.


8.Không còn chỗ để xả stress



Khi vui, buồn, hạnh phúc hay tức giận, tất cả đều có thể được Facebooker thể hiện bằng những dòng status (trạng thái) để họ có thể "xả" được cảm xúc và suy nghĩa của mình cho tất cả mọi người cùng biết và cũng được nguôi ngoai được phần nào, nếu như có thêm nhiều "like" thì càng tốt.


Chưa kể "tất tần tật" những bức ảnh từ bi, hài, cảm động, kinh dị cho đến những câu chuyện hỉ, nộ, ái, ố gây rúng động trên Facebook cũng đều có thể trở thành những đề tài sôi nổi để cư dân mạng xã hội này thi nhau bàn tán, bình luận và chia sẻ.


Vì vậy Facebook cũng trở thành nơi để nhiều người dùng để xả stress, để phát biểu quan điểm và thậm chí là để "chém gió". Mất đi Facebook có lẽ cũng sẽ mất đi một phương tiện xả stress hữu ích nhất hiện nay, đặc biệt là đối với giới trẻ và dân văn phòng.


9. Không còn được "like", "tag" và "follow"



"Like" (thích), "tag" (đánh dấu) và "follow" (theo dõi) là những thứ đã trở nên quá quen thuộc với Facebooker và trở thành những niềm vui nho nhỏ của họ mỗi khi có dấu đỏ thông báo ở trên thanh bar Notification (thông báo).


Vì vậy mất đi Facebook cũng đồng nghĩa với việc mất đi những niềm vui này và một ngày không được "like", không được "tag" và không có thêm người "follow" sẽ trở thành nỗi kinh hoàng đối với rất nhiều người, đặc biệt là dân "nghiền" Facebook.


10. Tweet lên ngôi


Cứ mỗi lần Facebook đột ngột bị "sập" hoặc trở nên chậm chạp một cách bất thường là cư dân mạng xã hội Tweet cũng một phen xôn xao, dậy sóng về Facebook.



Dường như mạng xã hội đã trở thành món ăn không thể thiếu, và khi không còn Facebook thì người ta sẽ tìm tới món ngon khác để thay thế. Ứng cử viên sáng giá nhất có lẽ không ai khác đó là Tweet khi lượng người dùng mạng xã hội này cũng như sức ảnh hưởng của nó đang ngày càng một lớn dần.


Theo VTC.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.