Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

“Lỗ hổng số” trong cuộc chiến chống thánh chiến

“Lỗ hổng số” trong cuộc chiến chống thánh chiến

Cấp độ mã hóa các hình thức thông tin liên lạc trên Internet ngày càng tinh vi.



Trong lúc nhìn lại những diễn biến trong những ngày qua - với các cuộc truy lùng của cảnh sát đang diễn ra tại Pháp, Bỉ và Đức - chắc hẳn ít người có thể ngờ được rằng giới chức đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng.


Một trong những nguyên nhân chính khiến các cơ quan tình báo hiện đang phải làm việc hết công suất là trong vòng 4 tháng qua, đã có tới 3.000 người châu Âu tới Syria và Iraq. Trong số này hiện nay, có nhiều kẻ đang mưu toan quay trở về và tiến hành các cuộc tấn công thánh chiến ngay trong lòng châu Âu. Các chính phủ và giới chức tình báo cảnh báo rằng nỗ lực chống khủng bố đang ngày càng trở nên khó khăn hơn bởi hiện phần lớn các cuộc trao đổi giữa những kẻ khủng bố và tội phạm diễn ra trực tuyến.


Trước thời đại bùng nổ Internet, các cơ quan tình báo có thể giám sát những cuộc trao đổi giữa các đối tượng tình nghi khủng bố bằng cách xâm nhập đường dây điện thoại hoặc cài đặt thiết bị nghe lén. Tuy nhiên, các chuyên gia phản gián lập luận rằng do hiện có quá nhiều kênh liên lạc sẵn có trên mạng, từ tin nhắn, thư điện tử cho tới "chat room", việc theo dõi càng khó khăn hơn.


Một trong những điểm lo ngại nhất là cấp độ mã hóa các hình thức thông tin liên lạc trên Internet ngày càng tinh vi khiến những người ngoài cuộc rất khó bẻ khóa. Các dịch vụ như WhatsApp và Snapchat cho phép người sử dụng liên lạc ẩn danh một cách tương đối tốt bằng cách mã hóa các dịch vụ của họ. Thủ tướng Anh David Cameron đã bày tỏ lo ngại rằng việc mã hóa sẽ cho phép những kẻ khủng bố và các loại tội phạm khác hoạt động trong "những không gian an toàn" trên Internet - và các hình thức này cần bị loại bỏ.


Thủ tướng Cameron cam kết nếu tái đắc cử vào tháng 5 tới, ông sẽ đệ trình Quốc hội dự thảo luật giải quyết vấn đề này. Nhưng thách thức mà chính phủ Anh và Mỹ phải đối mặt khi muốn xây dựng một văn bản luật thành văn không nhiều bằng những khúc mắc trong mối quan hệ với các công ty công nghệ lớn. Tiết lộ của Edward Snowden về hoạt động nghe lén hàng loạt của các cơ quan tình báo Mỹ và Anh đã làm tổn hại nghiêm trọng quan hệ của hai chính phủ này với ngành công nghệ. Tiếp sau vụ tiết lộ chấn động này, các công ty như Google và Apple chịu áp lực khổng lồ để thuyết phục các khách hàng rằng thông tin và các nội dung cá nhân của họ được bảo mật hoàn toàn.


Cũng từ những vụ việc trên, các hãng công nghệ lớn đang chạy đua với nhau để phát triển phần mềm khiến chính các công ty này cũng khó mở "cửa sau" vào dữ liệu của khách hàng, cho dù các cơ quan an ninh đã ban hành một văn bản pháp lí có lí do chính đáng để họ được phép làm điều đó.


Trong khi đó, giới bình luận cho rằng các chính phủ phương Tây và nhiều công ty viễn thông Mỹ cần phải có những nỗ lực mới để hóa giải các mối lo đối nghịch về tính bảo mật và an ninh quốc gia. Mỹ và Anh cần đưa ra những đảm bảo mạnh mẽ hơn rằng bất cứ yêu cầu nào của họ về việc chặn thông tin đều phải có lí do chính đáng và phải được cấp có thẩm quyền thông qua. Về phần mình, các công ty Internet phải hiểu được rằng việc tạo ra một mức độ mã hóa khiến một bên thứ ba không có khả năng sử dụng "chìa khóa vàng" hay "cửa sau" khi cần thiết sẽ gây hậu quả thế nào đối với an ninh quốc gia.


Một điều không thể bác bỏ là tính bảo mật thông tin của người dùng Internet cần phải được củng cố liên tục. Tuy nhiên, các dịch vụ an ninh phương Tây cũng phải để ngỏ khả năng tiếp cận dữ liệu của một công dân nếu đó là điều cần thiết cho an ninh quốc gia và hợp pháp. Vụ việc xảy ra tại Paris đã nâng mối đe dọa thánh chiến lên một tầng nấc mới. Bởi vậy, có thể nói rằng trong khi an ninh của một quốc gia dân chủ phải được duy trì, thì các công dân của nó không thể có một quyền riêng tư tuyệt đối.


Theo Baotintuc.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.