Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Gặp gỡ người “làm giàu” thầm lặng cho tỉ phú Bill Gates

Gặp gỡ người “làm giàu” thầm lặng cho tỉ phú Bill Gates

Michael Larson.



Trở về thời điểm 20 năm trước, khi Bill Gates thuê Michael Larson về làm cho mình, giá trị tài sản của ông là tương đối ít ỏi (nếu so với thời điểm hiện tại), chỉ có hơn 5 tỉ USD. Tuy nhiên, bây giờ mọi thứ đã thật sự thay đổi kể từ khi Larson xuất hiện. Vẫn biết rằng, có những thời điểm sự giàu có của Gates nằm phần lớn ở công việc điều hành kinh doanh tại Microsoft nhưng trong nhiều năm qua, ông đã bán đi phần lớn cổ phần của mình tại Microsoft để làm từ thiện.


Vậy thì từ đâu, Microsoft vẫn tiếp tục có nguồn tiền bổ sung liên tục để tiếp tục gây dựng các quỹ nhân ái? Câu trả lời có lẽ chỉ thể nằm ở khối tài sản ngoại khổng lồ, chiếm hơn phân nửa trong tổng tài sản, mà ông đã gây dựng từ cách đây rất lâu và Larson là một mắt xích quan trọng trong đó giúp ông có thể làm giàu nhanh chóng.


Hiện Larson đang làm quản lí chính kiêm CIO của công ty đầu tư Cascade Investment LLC có trụ sở tại Washington, Mỹ, công ty do Bill Gates bỏ vốn đầu tư và thành lập vào năm 1994.


Mặc dù, Gates thường dành phần lớn các khoản đầu tư của ông vào công nghệ nhưng thông qua những công ty ngoài ngành như Cascade, mà cụ thể do Larson điều hành và quản lí, dòng tiền đầu tư của Gates vẫn luôn được xoay vòng để sinh lãi và được đa dạng hóa hơn.


Ngoài Cascade, Gates hiện cũng đang nắm trong tay số lượng lớn cổ phần trong các công ty phi lợi nhuận và bất động sản lớn như Công ty đường sắt quốc gia Canada, tập đoàn AutoNation hay Republic Services,...Và đây có lẽ là những khối tài sản khổng lồ giúp Gates có thể chi trả những khoản tài trợ từ thiện lớn mà ông quyên góp.



Vào thời điểm tháng Hai năm nay, Gates đã tổ chức một bữa tiệc kỉ niệm quan trọng để vinh danh Larson và mối quan hệ hợp tác gắn bó giữa hai người tại dinh thự Seattle, tuy nhiên thì đây cũng là lần hiếm hoi hai người có dịp trò chuyện và giao tiếp với nhau nhiều hơn bởi họ không hẳn là bạn thân và cũng rất ít đi cùng với nhau, theo Nhật báo Phố Wall tiếp cận cho biết.


Cũng tại bữa tiệc thân mật này, Gates cũng đã nói với các quan khách rằng ông "hoàn toàn tin tưởng và đặt niềm tin" vào Larson. Nói một cách khác, ông hiện rất tin tưởng vào việc trao tiền cho Larson để tiến hành kinh doanh đầu tư cũng như sử dụng một cách hoàn toàn tự chủ, không bó buộc.


Sự thật là không phải tự nhiên Bill Gates lại có thể tin tưởng gần như tuyệt đối vào Larson, phần lớn điều này nằm ở chỗ Larson quản lí công ty rất kín kẽ, hiệu quả và chưa từng để lộ bất cứ thông tin gì có liên quan đến thanh danh người sáng lập Bill Gates.


Đơn cử như việc ông yêu cầu nhân viên kí vào bản thỏa thuận bảo mật nhằm che dấu mọi thông tin tuyệt mật trong công ty ngay cả khi họ nghỉ việc. Larson đồng thời cũng đã thuê tới hơn 25 các nhà quản lí tiền tệ bên ngoài với giá hơn 10 tỉ USD nhằm phục vụ mục đích chính là cung cấp ý tưởng đầu tư mới nhưng bên cạnh đó, họ cũng là những trợ thủ đắc lực giúp che giấu nhiều dấu vết quan trọng của công ty.


Lợi ích có thể thấy rõ nhất từ cách thức quản lí này của Larson là những thương vụ đầu tư lớn vào khách sạn Ritz-Carlton hay Four Seasons nổi tiếng ở Mỹ, tất cả giới truyền thông đều không hề hay biết rằng, Gates chính là một trong số những cổ đông quan trọng nằm giữ phần lớn cổ phần, qua đó tránh được những điều tiếng không hay và cạnh tranh không lành mạnh từ nhiều phía.


"Melinda và tôi đã có thể tự do theo đuổi tầm nhìn của mình về một thế giới lành mạnh và giáo dục tốt hơn nhờ bởi những gì mà Michael Larson đã làm được", Gates tiếp tục tán dương Larson và chia sẻ dự định trước quan khách có mặt tại bữa tiệc. Ngoài ra tại đây, Gates cùng người vợ Melinda còn chính thức tuyên bố sẽ quyên góp tới 95% tổng tài sản vào các quỹ do họ lập ra và có lẽ cho tới lúc thực hiện điều đó, Larson vẫn sẽ là cánh tay kiếm tiền đắc lực không thể thiếu.


Nói một cách khác, phần lớn sự giàu có mà Bill Gates có được như ngày hôm nay chắc chắn sẽ không thể bỏ qua công lao lớn của Larson - một người cộng tác thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng và không thể thay thế được.


Nguồn Businessinsider.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.