Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

Các thủ khoa Đại học dùng mạng di động nào?

Các thủ khoa Đại học dùng mạng di động nào?

Nguyễn Đức Tâm An là Thủ khoa được Viettel tặng SIM, điện thoại khi mới vào trường, cô bạn này vẫn giữ số đó cho tới khi ra trường và trở thành thủ khoa kép.



Theo con số thống kê mà Thành đoàn Hà Nội công bố, trong 129 thủ khoa đầu ra được thống kê có số di động thì có tới 110 sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, đứng đầu các trường đại học ở Hà Nội chọn nhà mạng Viettel cho chiếc di động của mình. Tỉ lệ các thủ khoa Đại học đầu ra chọn mạng di động Viettel lớn hơn nhiều so với thị phần của nhà mạng này trên tổng thể.


Theo Sách trắng về CNTT và TT năm 2013, với mảng viễn thông di động, Viettel chiếm 45,31%. Nếu so sánh với thị phần chung, thị phần ở mảng “thủ khoa Đại học đầu ra ở Hà Nội” của Viettel có sự đột biến với hơn 85%, số còn lại sử dụng mạng VinaPhone và MobiFone, với các mạng nhỏ như Gmobile và Vietnamobile thì con số là 0%.


Không giống như sự lựa chọn mạng di động của các doanh nhân giàu nhất sàn chứng khoán (MobiFone chiếm tới 90% - số liệu năm 2009) những sinh viên nói chung có bối cảnh khác. Nếu như trước đây, khi trên thị trường chỉ có một mạng di động duy nhất thì sự lựa chọn dùng mạng nào với những doanh nhân thành đạt đương nhiên sẽ là MobiFone và vì thế mạng này chiếm ưu thế gần như tuyệt đối là do “độc quyền tự nhiên”.


Thế nhưng, với các sinh viên thì việc phổ cập di động đã có từ cách đây nhiều năm và trên thị trường có đủ 5 mạng di động (Viettel, MobiFone, VinaPhone, Vietnamobile, Gmobile) thì sự lựa chọn tới 85% dành cho Viettel của các thủ khoa Đại học có những nguyên nhân khác.


Thứ nhất, Viettel là mạng di động đầu tiên đưa ra thị trường chính sách tặng tài khoản nghe gọi và SMS miễn phí hàng tháng cho sinh viên mà không kèm điều kiện gì. Đây cũng là nhà mạng đầu tư lớn nhất cho giáo dục với việc tặng học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo vượt khó, thủ khoa Đại học với chương trình thường niên…. Với lớp khách hàng là học sinh, sinh viên, Viettel trở thành sự lựa chọn đầu tiên và quen thuộc nhất bởi ưu đãi, giá rẻ.


Thứ hai, phần lớn sinh viên là người ngoại tỉnh và họ cần dùng mạng có sóng khoẻ, phủ tới cả vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo… mà trong số đó Viettel là mạng đáp ứng tốt nhất nhu cầu này. Với những sinh viên có smartphone và cần truy cập 3G ở mọi lúc, mọi nơi kể cả khi về vùng quê hẻo lánh thì Viettel cũng là lựa chọn tốt nhất với số trạm 3G nhiều hơn tất cả các mạng di động khác cộng lại (26.000 trạm).


Thứ ba, khi trở thành mạng di động đầu tiên ưu đãi cho sinh viên vô điều kiện, kèm theo chính sách gọi nội mạng giá siêu rẻ giữa các thuê bao Viettel, nhà mạng này đã tạo ra một cộng đồng dùng dịch vụ của mình trong đối tượng sinh viên. Nếu như một nhóm đã dùng Viettel thì các sinh viên có quan hệ liên lạc cũng có xu hướng dùng mạng này để liên lạc cho thuận tiện và tiết kiệm.


Thứ tư, rất nhiều thủ khoa đầu ra trước đó cũng là người được Viettel tặng SIM hoặc nhận chính sách ưu đãi của mạng di động này khi mà các hãng viễn thông khác chưa kịp đẩy mạnh những chương trình tới tầng lớp sinh viên. Hầu hết các sinh viên ưu tú đều gắn bó với nhà mạng quân đội từ những ngày đầu dùng di động và họ vẫn giữ số liên lạc cho tới khi ra trường với vị trí thủ khoa đầu ra.


Trong số những thủ khoa từng được tặng SIM và điện thoại lúc nhập trường - Nguyễn Đức Tâm An, Đại học sư phạm Hà Nội là một ví dụ. Là thủ khoa cả đầu vào và đầu ra, Tâm An chia sẻ: “Cách đây 4 năm, mình là một trong số những thủ khoa đầu vào của trường nên được Tập đoàn Viễn thông quân đội tặng điện thoại kèm theo SIM. Kể từ đó đến nay mình vẫn luôn chỉ sử dụng duy nhất một số điện thoại này. Mình không bao giờ đổi số bởi đây không chỉ là kỉ niệm mà đã trở thành đặc trưng của riêng bản thân mình”.


Nếu như trước đây MobiFone là mạng di động được chọn với những người thành đạt nói chung thì giờ đây cuộc chơi đã có những dấu hiệu thay đổi. Khi những thành phần ưu tú của thế hệ trẻ như những thủ khoa Đại học ở Hà Nội lựa chọn Viettel chiếm đa số thì sự thay đổi có thể sẽ diễn ra trong những năm tới. Một trong những ví dụ điển hình của sinh viên xuất sắc trở thành doanh nhân thành đạt dùng mạng Viettel là Nguyễn Hoàng Giang, Tổng giám đốc Công ty chứng khoán Vndirect (vốn điều lệ 1.000 tỉ đồng) - CEO chứng khoán trẻ nhất Việt Nam (nhậm chức khi mới 24 tuổi).


Khi những thủ khoa hoặc sinh viên xuất sắc từng dùng Viettel trở thành những người thành đạt trong tương lai thì cán cân về tỉ lệ người thành đạt dùng mạng di động nào sẽ có biến động lớn.


Theo ICTnews.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.