Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014

Andrew Viterbi: Thiên tài thầm lặng, người gây dựng Qualcomm

Andrew Viterbi: Thiên tài thầm lặng, người gây dựng Qualcomm

Từ khoảnh khắc may mắn thoát nạn đó, "Tôi là người đầu tiên thừa nhận cuộc sống của mình đã trải qua ở đúng nơi và vào đúng thời điểm," Viterbi kể lại. Nhưng đó là sự khiêm tốn quá mức về phía mình. Trong nửa thế kỉ qua, Viterbi là người đi tiên phong trong nhiều ngành công nghiệp điện tử. Nền tảng cơ bản nhất trong công việc của ông chính là thuật toán Viterbi - được phát minh vào những năm 1960. Đây được xem là cơ sở của tất cả các hệ thống thông tin liên lạc quân sự, tàu vũ trụ và hệ thống điện thoại di động ngày nay.


Để triển khai thuật toán của mình trên các vi mạch cũng như trên ứng dụng, Viterbi đã đồng sáng lập một số công ty điện tử, trong đó có Qualcomm là đơn vị tiên phong của lĩnh vực truyền thông di động. Tuy nay đã rút khỏi ngành công nghiệp này nhưng ông vẫn dành hết thời gian và đam mê của mình để khuyến khích các kĩ sư trẻ triển vọng trong việc phát triển công nghệ mới, thông qua các hoạt động từ thiện và đầu tư mạo hiểm.


Không gian chính là địa điểm


Khi 10 tuổi, Andrew thường chăm chú nhìn qua con sông Charles để quan sát các tòa nhà của Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) ở Cambridge và nuôi quyết tâm phải đến đó để học đại học. Ông đã làm việc chăm chỉ để thực hiện ước mơ của mình: Lúc học trung học, ông tốt nghiệp đứng thứ tư của một lớp gồm 225 học sinh xuất sắc ngành khoa học và giành được học bổng vào đại học MIT. Ông ghi danh vào chương trình hợp tác ngành kĩ sư điện, nó cho phép ông làm việc bán thời gian để kiếm tiền nuôi sống bản thân.


Vào tháng 6/1957, chàng thanh niên 22 tuổi tốt nghiệp với cả 2 tấm bằng cả cử nhân và thạc sĩ ngành kĩ sư điện đã nhận được lời đề nghị hấp dẫn nhất cho công việc: tham gia một nhóm nghiên cứu thông tin liên lạc tại Jet Propulsion Laboratory (JPL) ở Pasadena, California. Trong những năm 1940 - 1950, JPL được điều hành bởi Viện Công nghệ California theo hợp đồng với Bộ chỉ huy tên lửa đạn đạo quân đội Mỹ. Viterbi đã được thuê bởi bậc thầy truyền thông Eberhardt Rechtin – người đã thiết kế ra không gian mạng vũ trụ cho NASA và đến nay vẫn được sử dụng để theo dõi tàu vũ trụ.


Năm 1957, nhóm của Rechtin xây dựng hệ thống đài phát sóng điều khiển tên lửa được phát triển tại Redstone Arsenal. Thách thức đặt ra là phải thiết kế hệ thống chỉ dẫn có khả năng hoạt động ngay cả trong điều kiện sự hiện diện của đối phương gây nhiễu với mục đích đánh sập hoặc làm tắc nghẽn tín hiệu dẫn đường và khiến tên lửa lệch khỏi hành trình đã định.Viterbi nhớ lại: “JPL đã vượt xa tất cả trong lĩnh vực nghiên cứu chống nhiễu, thậm chí hơn cả Phòng thí nghiệm Lincoln của MIT tại Massachusetts”.


Vào tháng 10 năm 1957, chỉ vài tháng sau Viterbi gia nhập JPL, Liên Xô gây sửng sốt thế giới bằng cách phóng vệ tinh đầu tiên bay vòng quanh quỹ đạo Trái Đất – vệ tinh nhân tạo Sputnik 1 với kích thước bằng một quả bóng rổ là một tín hiệu đánh dấu sự thống trị không gian. Mỹ lúc này mới dùng hết sức tăng tốc để bắt kịp thời đại vũ trụ. Một lần nữa, Viterbi thấy mình đang ở đúng nơi và đúng thời điểm: Bộ phận của Rechtin đã được đưa ngay vào chương trình không gian của quân đội. Viterbi làm việc hàng giờ đồng hồ với những người khác trong nhóm này – "Cá nhân tôi đã làm việc chủ yếu ở phần theo dõi và thu thập các tín hiệu" cho thiết bị Explorer 1, vệ tinh đầu tiên của Mỹ ra mắt vào tháng 2/1958.


Thuật toán nổi tiếng


Trong 6 năm, Viterbi đã giúp hệ thống thông tin liên lạc tên lửa và không gian đi tiên phong tại JPL (chuyển giao cho NASA vào năm 1958) – nó không chỉ cho các vệ tinh nhân tạo mà còn cho tàu vũ trụ bay đến các hành tinh khác với một khoảng cách vô cùng xa. Cũng trong 6 năm đó, ông đã nhận được bằng tiến sĩ ngành kĩ sư điện từ Đại học Nam California, lúc này chỉ là một trường đại học tư nhân ít tên tuổi và cũng là trường duy nhất cho phép ông theo đuổi việc học nửa buổi trong khi làm việc toàn thời gian.


Ảnh

Mô phỏng thuật toán Viterbi



Điều mà Viterbi yêu thích làm nhiều như việc nghiên cứu tại JPL đó là dạy học. Do đó, một năm sau khi nhận học vị tiến sĩ vào năm 1962, ông nhận lời mời trở thành trợ lí giáo sư tại Đại học California, Los Angeles (UCLA). Ở đó, ông bắt đầu giảng dạy lí thuyết thông tin và truyền thông kĩ thuật số. Khi bắt đầu giảng dạy các vấn đề về tách tín hiệu số lúc bị nhiễu, cách thức tiêu chuẩn để trình bày chủ đề này là “phức tạp và khó dạy”, Viterbi nói. Vì vậy, ông cố đặt vấn đề theo cách đơn giản hóa các khái niệm “để dạy các khóa học nâng cao một cách tốt hơn”. Sau ba tháng tập trung suy nghĩ, tháng 3/1966, ông đã tìm ra một giải pháp đơn giản.


Vui sướng vì phát minh ra một phương pháp giảng dạy mới có tác động mạnh, ông đã viết một bài báo xuất bản năm 1967 trên tạp chí IEEE và bây giờ tất cả mọi người đều gọi đó là thuật toán Viterbi. Phát minh này giúp ông có thể lọc ra được số ít tín hiệu kĩ thuật số trong khu vực bị nhiễu sóng.


Nhưng một đồng nghiệp đã chỉ ra rằng các thuật toán, nếu có thể được thực hiện trong phần cứng sẽ có ứng dụng thực tế mạnh mẽ trong việc nâng cao hiệu suất thực sự của hệ thống thông tin liên lạc. Trên thực tế, thuật toán này mạnh đến nỗi mà các kĩ sư đã ứng dụng cho tên lửa, thiết bị theo dõi tàu vũ trụ hay điện thoại di động. Thuật toán Viterbi giúp giảm công suất, tăng cường phạm vi của nguồn phát, giảm đường kính ăn ten thu sóng, vận hành tốt trong môi trường nhiễu hoặc làm tăng số lượng người dùng trong hệ thống di động. Cũng trong bài báo đó, ông đã trình bày các bí quyết cơ bản để ứng dụng hiệu quả, lâu dài thuật toán Viterbi trong nhiều ngành công nghiệp.


Bảo mật thông tin liên lạc di động


Viterbi giảng dạy tại UCLA trong một thập kỉ (1963-1973). Tuy nhiên, sự phát triển của công nghệ cho thấy rõ rằng thuật toán của ông có thể ứng dụng thực tế trong quân sự và thương mại truyền thông cũng như trong không gian từ xa, ông bắt đầu tư vấn các hợp đồng nghiên cứu nhỏ của Bộ quốc phòng, NASA cùng với hai giáo sư đồng nghiệp là Leonard Kleinrock tại UCLA và Tiến sĩ Irwin M. Jacobs tại Đại học California, San Diego. Việc cố vấn này lớn mạnh nhanh đến mức trong năm 1969, ba nhóm này hợp thành một công ty khởi nghiệp với tên gọi Linkabit. Một năm sau đó, công ty đã có 10 nhân viên và đến năm 1973 là 25 người.


Tại thời điểm này, Viterbi cảm thấy ông cần phải lựa chọn giữa ở lại học viện hay cùng vận hành Linkabit toàn thời gian. Vì vậy vào năm 1973, ông đánh cược số phận của mình cho công ty non trẻ và theo nó chuyển đến San Diego. Vào giữa những năm 1970, Linkabit đã giành được một hợp đồng để xây dựng tất cả các radio chống nhiễu hai chiều cho toàn đội máy bay và trung tâm trên mặt đất của Bộ chỉ huy Không quân chiến thuận Hoa Kì. Công nghệ mà Linkabit phát triển là tiền thân của mạng không dây diện rộng (Wide Area Networks) hay modem WiFi ngày nay trong máy tính xách tay.


Năm 1980, Linkabit được mua lại bởi Microwave Associates Communications (M/A-COM) Burlington, MA. Việc sáp nhập “đã cho chúng tôi cơ hội để mở rộng sang các sản phẩm thương mại, chẳng hạn như phát triển modem cho trạm ăng ten đầu cuối khẩu độ nhỏ (VsATs) của truyền hình vệ tinh kĩ thuật số giai đoạn đầu”, Viterbi nói.


Viterbi cũng giúp thiết kế và xây dựng cơ sở đầu tiên cho Home Box Office (HBO), sử dụng công nghệ chống nhiễu của mình để tránh sai lệch tín hiệu truyền hình,và vì thế những khách hàng không đăng kí thuê bao sẽ không thể xem những chương trình truyền hình trả tiền. Viterbi ở lại M/A-COM trong 5 năm, cho đến khi một sự thay đổi trong quản lí vào năm 1985 khiến ông và Jacobs, cùng 5 nhân viên rời bỏ Lonkabit và thành lập nên Qualcomm - nhà khổng lồ trong lĩnh vực điện toán di động trong tương lai.


Ảnh

Irwin Jacobs



Qualcomm giành quyền kiểm soát


Ban đầu, nhóm nghiên cứu Qualcomm nhắm vào lĩnh vực quân sự. Nhưng sau đó họ nhanh chóng xâm nhập vào các ứng dụng thương mại. Giấy phép thử nghiệm đầu tiên của Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) được cấp cho OmniTRACs, một hệ thống thông tin sử dụng thông tin vệ tinh trên quỹ đạo tĩnh cho phép các công ty vận tải đường dài có thể giữ liên lạc thường xuyên với trạm điều phối thông qua tin nhắn văn bản.


Từ triển khai trên 600 xe tải ban đầu vào năm 1988, OmniTRACs hiện nay đã phát triển để sử dụng cho hơn nửa triệu xe trên toàn thế giới. Viterbi tuyên bố: "OmniTRACs thực sự là bệ phóng của Qualcomm và nguồn thu từ hệ thống này giúp công ty có lợi nhuận để đầu tư giai đoạn đầu ra mắt hệ thống không dây CDMA vào những năm 1990."


Ảnh

OmniTRACs hiện nay



Cũng khoảng năm 1990, thời kì sơ khai ngành công nghiệp truyền thông di động, Qualcomm quyết định lựa chọn công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian (TDMA) cho nền tảng kĩ thuật số, Viterbi đến và nói: “chúng ta có lựa chọn tốt", theo cách nói đó, tất nhiên không gì khác ngoài công nghệ CDMA (Code division multiple access - công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã ). "Mọi người đều cười ồ trừ những người tiền nhiệm của Verizon, đó là Pactel Cellular, Nynex, Bell Atlantic - ba cái tên thuộc công ty Baby Bells được thành lập sau khi AT&T tan rã vào năm 1984. Họ đã có sự đầu tư nhỏ".


Năm 1993, CDMA cho truyền thông di động kĩ thuật số được chuẩn hóa. Năm 1995, hàng trăm giảng viên, nhân viên, sinh viên, cựu sinh viên, và những người có thiện chí đổ xô đến sân kĩ thuật của hệ thống thông tin để xem CDMA - di động kĩ thuật số đầu tiên của Qualcomm được lắp đặt tại Hồng Kông, tiếp theo là ở Los Angeles và Hàn Quốc vào năm sau. Thật vậy, “Hàn Quốc có số lượng điện thoại di động lớn nhất trên thế giới cho đến khoảng năm 2000," Viterbi nói.


Trong năm 2006, "có 300 triệu điện thoại CDMA trên toàn thế giới. Chúng được sử dụng ở khắp mọi nơi ngoại trừ châu Âu ", ông nói. Chúng đã gây bão trên toàn thế giới vì hiệu quả của kĩ thuật trải phổ CDMA cao gấp 15 lần so với sử dụng các loại truyền sóng khác trong cùng một băng thông, và ba đến bốn lần so với người sử dụng TDMA. Vì vậy, thế hệ mới thứ ba (3G) của điện thoại di động với giọng nói và dữ liệu tốc độ cao đã được áp dụng trên một số phiên bản của công nghệ CDMA toàn thế giới. Qualcomm từ lúc có trong tay 7 nhân viên năm 1985 đến khi đạt được đỉnh cao với hơn 10.000 người vào năm 1999 đã cố gắng làm tất cả mọi thứ từ việc chế tạo vi xử lí để được cấp giấy phép thiết lập công nghệ trong các trạm cơ sở và thiết bị cầm tay. Sau này, Qualcomm bán phần cơ sở hạ tầng cho Ericsson và bộ phận sản xuất điện thoại di động cho Kyocera, “giảm số lượng nhân viên của Qualcomm xuống năm hoặc sáu ngàn, nhưng bây giờ nó sinh lợi nhiều hơn”, Viterby cho biết. Bây giờ công ty tập trung vào "xây dựng bộ não cho điện thoại di động", chính là những chip thông minh có tích hợp công nghệ CDMA và các thuật toán Viterbi bằng silicon và vi mạch.


Ảnh

Mô hình CDMA



Viterbi nghỉ hưu vào năm 2000 ở tuổi 65. Ông dành thời gian còn lại của mình vào ba việc: hoạt động chuyên môn (chẳng hạn như viết bài đánh giá hay giảng dạy tại các trường đại học và phát biểu các vấn đề quan trọng tại hội nghị), đầu tư vào các công ty khởi nghiệp ("tôi thích thú với các công ty với công nghệ mới khi vừa được thành lập hoặc thị trường mới nổi, và tôi muốn kiếm tiền, giống như bất kì nhà đầu tư nào khác!"), và hoạt động từ thiện thông qua tổ chức Viterbi Family Foundation.


Năm 2004, ông đã thành lập quỹ đầu tự rất lớn với trị giá 52 triệu USD dành cho trường Kĩ thuật tại đại học South California. Sau này đổi tên thành trường Kĩ thuật Andrew and Erna Viterbi, hiện nay xếp hạng trong số 10 trường kĩ thuật hàng đầu ở Mỹ. Các khoản tài trợ khác được dành cho trường trung học cũ của ông (trường Boston Latin ở Boston), Viện Nghiên cứu Scripps, trường Đại học MIT, tổ chức Technion ở Israel và các chương trình trang bị cho những người trẻ thiệt thòi để có nền giáo dục tốt hơn.


Lời khuyên từ đỉnh cao cuộc sống


Andrew Viterbi nói gì với sinh viên kĩ thuật ngày nay về việc khởi nghiệp của họ? “Hãy làm những gì bạn thích, bởi vì khi đó nó không phải là làm việc,” ông chia sẻ. "Tập trung vào một lĩnh vực mà bạn nghĩ rằng mình tốt khi ở đó. Đừng phân tán mình cho quá nhiều thứ."


Ảnh

Viterbi và tổng thống Mỹ George W. Bush trong lần trao huy chương vì khoa học năm 2007



Viterbi có sự say mê tuyệt vời với kĩ thuật, bởi vì nó cho phép ông khám phá những gam màu khác nhau từ nghiên cứu khoa học đến kinh doanh và pháp luật, và làm công nghệ đồng thời cũng làm ra giá trị cho những người khác. “Thế còn việc ở đúng nơi vào đúng thời điểm thì sao? Tất cả những quyết định tôi đã thực hiện dường như đều hợp lí vào những thời điểm khác nhau. Tôi đã không dành nhiều thời gian lo lắng về điều phải làm”. Ông dừng lại và nói thêm: "Một trong những quyết định khó khăn là rời khỏi học viện để chuyển tới San Diego và dành trọng thời gian trong lĩnh vực kinh doanh. Nhưng nó là một chuyến đi thú vị!


Tôi tin tưởng vào việc cho đi”, Viterbi lặng lẽ nói. "Tôi là một người nhập cư. Tôi đến đất nước này khi được bốn tuổi. Và tôi đã có một sự nghiệp không thể có ở bất cứ nơi nào khác. Tôi rất lo lắng cho tương lai của đất nước mình. Chúng ta đã có 50 năm tăng trưởng tuyệt vời từ sáng tạo khoa học".


Ông tiếp tục "Tôi rất ủng hộ sáng kiến của Viện Hàn lâm Quốc gia trong việc tiếp tục tài trợ cho nghiên cứu khoa học và công nghệ. Chúng ta phải duy trì thế hệ lãnh đạo đất nước trong việc đổi mới công nghệ. Điều đó đòi hỏi bảo tồn và phát triển tổ chức về giáo dục đại học cho cả nghiên cứu và giảng dạy của chúng ta. Và nếu chúng ta không thể tuyển đủ sinh viên Mỹ vào các nghiên cứu khoa học và kĩ thuật, ah,” ông nhún vai và mỉm cười,“chúng ta phải tiếp tục chào đón các sinh viên chuẩn bị tốt từ châu Á và châu Âu, khuyến khích họ ở lại đây sau khi hoàn thành nghiên cứu để góp phần vào sự đổi mới của tăng trưởng kinh tế của chúng ta.”


Đó là tất cả những gì Andrew Viterbi đã làm.


Theo PC World VN.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.