Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

Quản lí OTT: “Sẽ không cấm đoán cực đoan”

Quản lí OTT: “Sẽ không cấm đoán cực đoan”

Theo số liệu thống kê từ Hiệp hội Internet VN (VIA) tỉ lệ sử dụng các dịch vụ OTT của VN từ 24,7% trong năm 2012 lên 33,8% vào năm 2013; dự kiến 3 năm 2014 - 2015 - 2016 sẽ tiếp tục đạt được các mức 41% - 44,2% - 45,5%.


Thời gian qua, các ứng dụng OTT như Viber, WhatsApp, Line, Kakao Talk, Zalo... đã nhanh chóng xuất hiện và trở nên phổ biến nhờ những lợi ích rõ rệt cho người dùng như nhắn tin, gọi điện miễn phí qua mạng Internet. Tuy nhiên, sự nổi lên chóng mặt của các ứng dụng OTT cũng chính là nỗi lo sợ của các nhà mạng. Một số nhà mạng như Viettel thậm chí đã từng kêu gọi Bộ TT&TT cấm hoàn toàn các ứng dụng OTT tại VN. Tuy nhiên, Bộ Thông tin và truyền thông đã công bố Dự thảo Thông tư Quy định về quản lí cung cấp, sử dụng dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet đã khẳng định rằng, VN không cấm loại hình dịch vụ này.


Mục tiêu: Hài hòa lợi ích


Mục tiêu điều chỉnh được coi là xuất phát điểm quan trọng nhất của một văn bản qui phạm pháp luật. Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, cũng như điều kiện đặc thù của VN, chúng tôi cho rằng có ba mục tiêu cốt lõi mà Thông tư sẽ cần phải tập trung điều chỉnh (tầm quang trọng được liệt kê theo thứ tự từ thấp đến cao) như sau: Thứ nhất, hoạt động của các DN cung cấp, sử dụng dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet có tác động tới ngành kinh doanh viễn thông. Thứ hai, tính cạnh tranh trên thị trường thoại và nhắn tin tại VN. Thứ ba, bảo vệ các DN nhỏ của VN có liên quan.


DN cung cấp dịch vụ kinh doanh dịch vụ thoại và nhắn tin trên nền Internet tại VN có phát sinh thu nhập và có tiềm năng phát triển rất lớn trong tương lai gần. Tuy vậy, việc quản lí nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này còn lỏng lẻo, đặc biệt vấn đề thu thuế thu nhập đối với các DN kinh doanh dịch vụ thoại và nhắn tin trên nền Internet hầu như là không hiệu quả.


Mặt khác, việc cung cấp dịch vụ còn liên quan khía cạnh nội dung. Trong bối cảnh như hiện nay, việc các DN cung cấp dịch vụ nhưng nhà nước lại không quản lí được là khó chấp nhận nếu nhìn nhận ở khía cạnh quản lí nội dung và vấn đề an ninh quốc phòng.


Hơn nữa, mục tiêu tạo lập môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ thoại và nhắn tin trên nền internet là mục tiêu quan trọng nhất của Thông tư. Muốn đạt được mục tiêu này, điều quan trọng nhất là phải có các DN cung cấp dịch vụ thoại và nhắn tin (bao gồm của hai phương thức thoại và nhắn tin truyền thống và trên nền internet) độc lập. Cần phải xác định các DN cung cấp dịch vụ thoại và nhắn tin trên nền internet là các đối thủ cạnh tranh của các DN kinh doanh viễn thông truyền thống tại VN. Vì vậy cần phải xem xét các thị trường này trong một thể thống nhất, tính tới các đặc thù của chúng để có thể tạo ra một thị trường cạnh tranh bình đẳng, tạo điều kiện phát triển cho các DN công nghệ thông tin và đồng thời giúp nhà nước có thể thu thuế thu nhập nhiều hơn từ các DN.


Nên tập trung quản lí hoạt động kinh doanh của các DN cung cấp dịch vụ nước ngoài (các DN này có tiềm lực tài chính, công nghệ lớn và thị trường người sử dụng trên phạm vi toàn cầu qua đó rất dễ thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường VN) vì họ có nhiều khả năng sẽ hạn chế hoạt động kinh doanh của DN VN cùng lĩnh vực. Tuy nhiên họ cũng tạo nền tảng cho các DN VN cung cấp dịch vụ hỗ trợ. Nói cách khác không thể loại trừ họ khỏi thị trường nhưng phải có cơ chế quản lí họ một cách hiệu quả, hạn chế các hành vi hạn chế cạnh tranh của họ.


Muốn đạt được mục tiêu này, cần phải mở rộng điều kiện cung cấp dịch vụ (áp dụng đối với DN nước ngoài) theo hướng các DN có nhiều lựa chọn hơn nhưng có cơ chế quản lí hiệu quả để họ không hạn chế cạnh tranh, giúp các DN VN cùng phát triển và bảo đảm các hoạt động kinh doanh của họ không ảnh hưởng tới trật tự công cộng và an ninh quốc phòng của VN.


Khuyến nghị từ thực tiễn


Hiện thông tư mới của tại khoản 3 và 4 Điều 6 dự thảo quy định: “nhà cung cấp dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet nước ngoài có thu giá cước không đặt máy chủ tại VN phải thông qua thỏa thuận thương mại với DN viễn thông VN có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet. Nhà cung cấp dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet nước ngoài chỉ được đặt máy chủ tại VN khi hợp tác với DN viễn thông VN có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền Internet phù hợp với cam kết quốc tế và các quy định về đầu tư nước ngoài quy định tại Luật Viễn thông”.


Tuy nhiên, theo chúng tôi cần sửa thành: “Nhà cung cấp dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet nước ngoài có thu giá cước không đặt máy chủ tại VN phải thông qua thỏa thuận thương mại hợp tác kinh doanh với các DN VN có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông loại hình nhắn thoại hoặc giấy phép cung cấp dịch vụ internet. Nhà cung cấp dịch vụ thoại, nhắn tin trên nền internet nước ngoài có quyền cung cấp dịch vụ khi đặt máy chủ và có hiện diện thương mại tại VN theo quy định của pháp luật”.


Kinh doanh dịch vụ internet nói chung và dịch vụ thoại và nhắn tin trên nền Internet nói riêng là nền tảng quan trọng để các DN vừa và nhỏ của VN có thể nhanh chóng lớn mạnh để có thể cạnh tranh ở cấp độ quốc tế. Mặc dù hoạt động kinh doanh này tạo ra áp lực mới đối với các DN kinh doanh viễn thông truyền thống của VN, nhưng nó sẽ là động lực phát triển cho các DN năng động và rất cần thiết trong quá trình hội nhập kinh tế hiện đại. Như vậy, bằng việc tạo ra hành lang pháp lí cho hoạt động của các DN được quyền kinh doanhhợp pháp, cũng qua đó bộ đã thực hiện chức năng hỗ trợ DNVVN, một mục tiêu quan trọng của chính sách công nghiệp hóa của VN hiện nay.


Theo Dddn.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.