Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Đề xuất để nhà mạng hưởng tối đa 70% cước dịch vụ nội dung thông tin

Đề xuất để nhà mạng hưởng tối đa 70% cước dịch vụ nội dung thông tin

Đối với dịch vụ nội dung thông tin có mức giá cước từ 1.000 đồng trở xuống, MO được hưởng tối đa không quá 70% giá cước thu được từ khách hàng. Ảnh: minh họa.



Tỉ lệ phân chia doanh thu giữa CSP với MO là một trong những chủ đề “nóng” nhất tại cuộc họp bàn về dự thảo Thông tư quy định về kết nối CSP với MO diễn ra chiều 22/9/2014, tại trụ sở Bộ TT&TT, dưới sự chủ trì của Thứ trưởng Bộ TT&TT Lê Nam Thắng và sự góp mặt của khoảng 10 CSP lớn.


Đại diện cho Cục Viễn thông để trình bày tóm tắt dự thảo Thông tư, ông Nguyễn Thành Chung, Phó Phòng cấp phép thị trường nhấn mạnh quan điểm của Bộ TT&TT là để CSP và MO tự thỏa thuận giá cước và phân chia doanh thu đối với các dịch vụ nội dung thông tin trên cơ sở đảm bảo khả thi về mặt kĩ thuật để tính cước, đối soát số liệu, phù hợp vói sự đóng góp và lợi ích của các bên. Nếu CSP và MO không tự thỏa thuận được thì áp dụng theo nguyên tắc thống nhất tỉ lệ phân chia doanh thu dịch vụ nội dung thông tin được quy định trong Thông tư.


Cụ thể, trường hợp giá cước dịch vụ nội dung thông tin tính trên một đơn vị bản tin nhắn sẽ phân ra 3 mức phân chia tỉ lệ như sau: Đối với dịch vụ có mức giá cước từ 1.000 đồng trở xuống, MO được hưởng tối đa không quá 70% giá cước thu được từ khách hàng. Đối với dịch vụ có mức giá cước trên 1.000 đồng đến 10.000 đồng, MO được hưởng tối đa không quá 50%. Đối với dịch vụ có mức giá cước trên 10.000 đồng, MO được hưởng tối đa không quá 30%. Còn trường hợp giá cước dịch vụ nội dung thông tin tính trong một khoảng thời gian nhất định như ngày/tuần/tháng…, thì MO được hưởng tối đa không quá 40%.


Cũng theo đại diện Cục Viễn thông, ở nhiều quốc gia khác, tỉ lệ ăn chia giữa CSP và MO cũng thay đổi tùy theo giá cước dịch vụ. Phần tỉ lệ của các CSP tăng dần tỉ lệ thuận với mức giá cước dịch vụ. Nói cách khác, dịch vụ có giá cước cao thì CSP được hưởng tỉ lệ ăn chia cao hơn.


Phát biểu chỉ đạo cuộc họp, Thứ trưởng Lê Nam Thắng khẳng định: “Dịch vụ cung cấp nội dung thông tin là mô hình hợp tác kinh doanh giữa CSP với MO, không phải mô hình mua đứt bán đoạn, dùng đến đâu mua đến đấy. Khách hàng của CSP cũng là các thuê bao di động của MO. Khi dịch vụ nội dung được cung cấp qua tin nhắn, giữa CSP và MO là quan hệ cộng sinh.


Trên thế giới, các nước cũng đều áp dụng cách thức phân chia giá cước thu được của khách hàng sử dụng dịch vụ nội dung thông tin cho hai bên CSP và MO. Tại Việt Nam, Nghị định số 72 về quản lí, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng cũng đã xác định rõ mô hình hợp tác kinh doanh giữa CSP với MO.


Đã là mô hình hợp tác kinh doanh thì trước hết các CSP và MO phải tự thỏa thuận tỉ lệ ăn chia. Những dịch vụ mà nhiều nội dung và có tính sáng tạo thì các CSP phải được hưởng tỉ lệ cao hơn. Còn những dịch vụ ít giá trị, không có tính sáng tạo như tin nhắn xổ số…(theo thống kê của các MO, loại dịch vụ này đang chiếm khoảng 30 – 40% doanh thu của các CSP Việt Nam), thì MO phải được hưởng phần nhiều. Trường hợp không thỏa thuận được thì Nhà nước khuyến cáo khung tham chiếu để các doanh nghiệp căn cứ vào đó để đàm phán. Nếu vẫn không thỏa thuận được thì phải hiệp thương giá theo Luật Giá”.



Theo dự thảo Thông tư quy định về kết nối doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin với doanh nghiệp viễn thông di động, Bộ TT&TT sẽ cấp đầu số trực tiếp cho các CSP thay vì trước đây CSP phải thuê đầu số của MO. CSP đang sử dụng số dịch vụ tin nhắn ngắn để cung cấp dịch vụ trước khi Thông tư có hiệu lực sẽ được ưu tiên phân bổ lại chính số dịch vụ tin nhắn ngắn đó. CSP đang sử dụng nhiều hơn 10 số dịch vụ tin nhắn ngắn để cung cấp dịch vụ cũng sẽ được phân bổ tất cả các số dịch vụ tin nhắn ngắn đó trong lần phân bổ đầu tiên. CSP sẽ phải nộp lệ phí phân bổ, phí sử dụng số dịch vụ tin nhắn ngắn theo quy định; đăng kí với MO số thuê bao di động, mã định danh tương ứng (nếu có) để gửi tin nhắn quảng cáo, chăm sóc khách hàng cho dịch vụ mà mình cung cấp. Nội dung tin nhắn quảng cáo, giới thiệu dịch vụ của CSP phải ghi rõ số dịch vụ tin nhắn ngắn, loại hình thông tin và giá cước tương ứng.



Theo ICTnews.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.