Thứ Hai, 1 tháng 9, 2014

Cuộc dịch chuyển toàn cầu và đích đến Việt Nam

Cuộc dịch chuyển toàn cầu và đích đến Việt Nam

Nokia đã chọn Việt Nam trong kỉ nguyên phát triển mới.



Cuộc dịch chuyển rầm rộ


Tỉnh Bắc Ninh trong công văn gửi Bộ Khoa học công nghệ mới đây cho biết, sẽ có thêm 39 dây chuyền sản xuất điện thoại di động thông minh Nokia về Việt Nam từ nay cho đến tháng 2/2015.


Theo đó, năng lực sản xuất thiết bị điện thoại Nokia khu công nghiệp VSIP sẽ tăng ít nhất là 6 lần và ngay trong 2014, sản lượng sẽ tăng gấp 3 lần. Các sản phẩm chính được sản xuất tại đây sẽ là dòng điện thoai cao cấp nhất Lumia 630 và Lumia 530.


Từ hồi tháng 5/2014, cuộc đại chuyển dịch này đã được công bố rộng rãi bởi ông chủ mới của Nokia Việt Nam chính là Tập đoàn Microsoft Mobile Oy.


Sau khi nắm quyền sở hữu 3 tháng, Microsoft đã thông báo, chiến lược phát triển toàn bộ Tập đoàn sẽ thay đổi bằng việc đầu tiên là đóng cửa toàn bộ, hoặc một phần của nhà máy sản xuất tại Komarom (Hungary), Bắc Kinh, Quảng Đông (Trung Quốc) và Reynosa (Mehico) để chuyển đến nơi mới thuận lợi hơn, trong đó có Việt Nam.


Tỉnh Bắc Ninh khẳng định, với sự thay đổi chiến lược này, nhà máy Nokia tại Bắc Ninh sẽ đóng vai trò chủ lực trong việc sản xuất thiết bị điện thoại di động của Microsofl và Nokia Việt Nam.


Một cuộc chuyển dịch rầm rộ sản xuất của các hãng điện tử toàn cầu từ các nước láng giềng sang Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ. Đó không hề là những quyết định đơn lẻ. Những cái tên như Samsung, Intel, LG, Canon... đã chứng minh Việt Nam ngày càng hấp dẫn hơn.


Theo tuyên bố của các hãng, Việt Nam sẽ là cứ điểm sản xuất cung cấp 80% smartphone cho Samsung và 80% bộ vi xử lí Haswel của Intel trên toàn cầu. Đến nay, Việt Nam cũng đã là nơi sản xuất tập trung các thiết bị máy in của Canon.


Đầu tháng 7, Samsung cam kết rót thêm 1 tỉ USD, mở nhà máy thứ 3 sản xuất màn hình điện thoại tại khu công nghiệp Yên Phong, Bắc Ninh (Samsung Display). Lúc mới vào Việt Nam, Tập đoàn điện tử lớn nhất Hàn Quốc chỉ đầu tư 670 triệu USD nhưng giờ là 6,85 tỉ USD.


Cuối tháng 7, bộ vi xử lí CPU Haswel sản xuất đầu tiên ở Việt Nam của Intel đã ra mắt tại Tp HCM. Đây là sản phẩm thứ 3 made in Vietnam của Intel. Cùng đó, lãnh đạo hãng này khẳng định, Intel Việt Nam đã đi đúng lộ trình được chọn trong chiến lược toàn cầu.


Một hãng điện tử khác cũng nổi tiếng là Wintek của Đài Loan, chuyên sản xuất các sản phẩm màn hình cảm ứng cũng vừa hé lộ kế hoạch với tỉnh Bắc Giang rằng sẽ tăng gấp đôi vốn đầu tư tại Việt Nam so với hiện nay. Từ vốn đầu tư 1,2 tỉ USD, hãng Wintek sẽ có tổng vốn lên khoảng 2,4 tỉ USD, quyết tâm mở rộng đầu tư lớn ở Việt Nam và kéo theo, sẽ cần tới 51.000 lao động tại Việt Nam.


Trước nữa, LG Electronic Việt Nam đã mở rộng sản xuất ở Hải Phòng khá ấn tượng. Bởi đầu năm, tổng vốn chỉ dự kiến khoảng 300 triệu USD nhưng sau đó chính hãng tại Hàn Quốc đã quyết định phải bỏ vốn gấp 5 lần con số trên tại Việt Nam. Trong tháng 10 tới, nhà máy mới 1,5 tỉ của LG Việt Nam sẽ đi vào hoạt động.


Đến nay, Việt Nam tụ hội hầu hết các nhà máy sản xuất điện tử lớn trên thế giới, đến từ Nhật, Mỹ, Hàn Quốc. Từ một nơi lắp ráp đơn thuần, các hãng đã chọn Việt Nam thành nơi sản xuất cho toàn cầu.


Quyết sách mạnh, chớp cơ hội nhanh


Một quốc gia có dân số vàng như Việt Nam, môi trường chính trị xã hội ổn định, chi phí nhân công rẻ, người lao động có đặc tính thông minh, cần cù... hẳn nhiên sẽ luôn hấp dẫn bất cứ ông lớn sản xuất nào. Nhất là khi chi phí nhân công ở các nước khác đang tăng nhanh.


Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là chính các quyết sách ưu đãi lớn của các bộ ngành, Chính phủ Việt Nam đối với các Tập đoàn đa quốc gia. Gần đây nhất là tại cuộc họp báo Chính phủ 28/8, Thủ tướng đã đồng ý dừng việc triển khai Thông tư 20 của Bộ KHCN để tạo thuận lợi cho Microsoft chuyển dây chuyền sản xuất điện thoại Nokia từ các nước về Việt Nam.


Nếu theo Thông tư có hiệu lực từ 1/9, các dây chuyền phải mới 80%, không quá 5 năm mới được vào Việt Nam thì có lẽ, cuộc chuyển dịch sản xuất của Nokia sẽ bị ách tắc dài dài.


Ảnh

Samsung - mẫu hình thành công ở Việt Nam.



Hay như các cơ chế riêng cho hoạt động của Samsung rất đặc thù. Ngày 19/8, Bộ Tài chính đã cho phép Samsung được phép sử dụng mẫu hoá đơn tự in trong hệ thống kế toán của Tập đoàn toàn cầu khi xuất hàng hoá, dịch vụ ra nước ngoài, mà không nhất thiết phải đúng mẫu hoá đơn theo quy định đối với doanh nghiệp trong khu chế xuất.


Lí do khá chính đáng cho Samsung là mỗi ngày, Samsung Eclectronics Việt Nam xuất ra 22.000 hoá đơn xuất khẩu, doanh thu 2 tỉ USD/tháng và có hàng trăm các giao dịch khác. Nếu phải tích hợp với hệ thống phần mềm hoá đơn Việt Nam thì sẽ ảnh hưởng tính đồng bộ dữ liệu phần mềm kế toán và bán hàng của hãng này trên toàn cầu.


GS Nguyễn Mai, nguyên chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế nước ngoài, Bộ KHĐT nhấn mạnh vai trò quyết tâm chính trị của các nhà làm chính sách. Ví dụ như Samsung, nếu năm 2006, Chính phủ còn lấn cấn về các ưu đãi thì có lẽ, Tập đoàn này đã chuyển sang đầu tư ở Thái Lan rồi.


Dù vậy, trong cuộc đại chuyển dịch trên, hiệu ứng lan toả cho ngành công nghiệp Việt Nam đến đâu hãy còn là câu hỏi bỏ ngỏ.


Theo VietNamNet.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.