Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

Điều gì xảy ra với Trái Đất sau một cuộc chiến hạt nhân?

Điều gì xảy ra với Trái Đất sau một cuộc chiến hạt nhân?

Theo đó, ngay sau khi cuộc chiến diễn ra, nhiệt độ toàn cầu sẽ giảm từ 2 đến 3 độ, lượng mưa trung bình hàng năm sẽ giảm đi 9%,... Hậu quả sau đó sẽ dẫn đến hạn hạn, mất mùa và nạn đói ở nhiều nơi trên thế giới. Đáng chú ý nhất, Trái Đất phải mất tới 1000 năm sau đó mới có thể lấy lại nhiệt độ bình thường như trước khi trận chiến xảy ra.


Một cuộc chiến hạt nhân giả định


Nếu trước đây, chúng ta chỉ thường thấy cảnh chiến tranh hạt nhân trên phim ảnh hoặc trong các tiểu thuyết, sách báo giả tưởng thì giờ đây, các nhà khoa học muốn cụ thể hóa những tác động của nó đối với Trái Đất và con người. Để thực hiện điều đó, nhóm nghiên cứu đã giả định một cuộc chiến hạt nhân giữa 2 nước X và Y.


Vào đỉnh điểm của cuộc chiến, 100 đầu đạn hạt nhân sẽ được thả xuống tiểu lục địa Ấn Độ, mỗi đầu đạn có kích thước tương đương với trên quả bom do quân đội Mỹ thả xuống thành phố Hiroshima hồi thế chiến thứ II. Tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ dùng các mô hình toán học để dự đoán những gì diễn ra sau khi 100 đầu đạn được thả xuống.


Điều gì xảy ra sau đó?


Sau đây là những gì nhóm nghiên cứu ước tính được:



  • 5 triệu tấn Carbon đen, sản phẩm sinh ra khi vụ nổ đốt cháy mọi thứ, sẽ ngay lập tức xâm nhập bầu khí quyển. Carbon đen sẽ hấp thụ lượng lớn nhiệt năng từ Mặt Trời, do đó lượng nhiệt tiếp cận tới bề mặt Trái Đất sẽ giảm đi đáng kể. Một lượng carbon đen cũng có thể theo nước mưa rơi trở lại mặt đất.

  • 1 năm sau đó, nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái Đất sẽ giảm khoảng 2 độ. Sau đó 5 năm, nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ giảm 3 độ so với trước khi cuộc chiến xảy ra. 20 năm sau đó, nhiệt độ Trái Đất sẽ lại ấm lên khoảng 1 độ, nhưng vẫn lạnh hơn so với thời điểm trước vụ nổ.

  • Nhiệt độ giảm xuống kéo theo lượng mưa mà Trái Đất nhận được cũng giảm xuống. 5 năm sau cuộc chiến, lượng mưa bình quân sẽ giảm đi 9% so với bình thường. 26 năm sau cuộc chiến, lượng mưa sẽ ít hơn 4,5% so với trước chiến tranh.

  • Từ năm thứ 2 đến năm thứ 6 sau cuộc chiến, mùa trồng trọt sẽ mất đi từ 10 đến 40 ngày tùy khu vực.

  • Các phản ứng hóa học do cuộc chiến để lại sẽ ăn mòn tầng ozone của Trái Đất. 5 năm sau cuộc chiến, tầng ozone sẽ mỏng hơn từ 20 đến 25%. 10 năm tiếp theo, tầng ozone có thể được hồi phục nhưng vẫn mỏng hơn 8% so với trước chiến tranh.

  • Một khi tầng ozone mỏng đi, lớp bảo vệ Trái Đất cũng bị suy yếu và lượng tia cực tím từ Mặt Trời sẽ khiến con người cháy nắng nhiều hơn. Hậu quả tất yếu là ung thư da. Đồng thời, tốc độ tăng trưởng của thực vật cũng suy giảm và có thể gây ra sự mất cân bằng DNA thậm chí là đột biến ở một số loại cây trồng.

  • Trong một nghiên cứu khác được thực hiện hồi năm 2013, Hiệp hội quốc tế các bác sĩ chống lại chiến tranh hạt nhân đã ước tính sẽ có hơn 2 tỉ người sẽ chết đói sau khi 100 quả bom hạt nhân được sử dụng sau cuộc chiến.


Đó là một số hậu quả mà các nhóm nghiên cứu hình dung ra về viễn cảnh sau 1 cuộc chiến tranh hạt nhân. Mục tiêu của nhóm nghiên cứu là kêu gọi các nước ngừng chế tạo và tiêu hủy vũ khí hạt nhân trong tương lai. Hiện nay ước tính có khoảng 17.000 đầu đạn hạt nhân vẫn còn được tích trữ trên khắp thế giới.


Hồi những năm 1980, các nhà khoa học đã dùng "mùa đông hạt nhân" để diễn tả viễn cảnh sau chiến tranh hạt nhân. Theo đó, vật liệu sau vụ nổ sẽ che kín bầu trời khiến ánh sáng Mặt Trời không thể chiếu xuống Trái Đất và sẽ có mùa đông kéo dài nhiều tháng.


Tuy nhiên đối với nghiên cứu này, bằng cách áp dụng các mô hình tính toán tương tự như ước tính biến đổi khí hậu toàn cầu, các nhà nghiên cứu vẽ ra một bức tranh chi tiết, cụ thể hơn về tác động của chiến tranh hạt nhân đối với Trái Đất. Tuy nhiên, dù sau đi nữa thì chiến tranh hạt nhân vẫn để lại những hậu quả nghiêm trọng, lâu dài và có ảnh hưởng đến sự tồn vong của con người.


Theo Tinh Tế. Nguồn Wiley, Popsci, Countercurrents.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.