Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

9 hiểu nhầm về các mạng xã hội

9 hiểu nhầm về các mạng xã hội

Dưới đây là 9 hiểu lầm thường gặp nhất về truyền thông MXH và những nghiên cứu có liên quan.


1. Truyền thông MXH là Facebook, Twitter và LinkedIn


Giáo sư thương mại Andreas Kaplan và Michael Haelein định nghĩa truyền thông xã hội là “một nhóm các ứng dụng trên nền internet được xây dựng trên ý tưởng và công nghệ của Web 2.0 và cho phép tạo và trao đổi các nội dung do người dùng xây dựng”.


Facebook, Twitter và LinkedIn là ba trang MXH đứng đầu và còn có các dạng MXH khác cũng như các dự án hợp tác như Wikipedia, các blog như Tumblr, các trang chia sẻ video như YouTube và Dailymotion.


Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có các công cụ khác như Sharepoint và Yammer. Tất cả các trang này đều có lượng độc giả riêng và chiến lược riêng đế kết nối với fan hâm mộ.


2. Truyền thông xã hội làm giảm hiệu suất công việc trung bình


Chúng ta đã được nghe nhiều câu chuyện về việc sinh viên bị mất tập trung vào việc học do Facebook và thậm chí có nhiều người phải tắt tài khoản Facebook của mình trong thời các kì kiểm tra để có thể tập trung. Tuy nhiên việc này không hẳn là đúng với môi trường công sở.


Một cuộc khảo sát của Ipos và Microsoft với khoảng 10.000 nhân viên trên 32 quốc gia đã cho thấy, 46% nhân viên cho rằng hiệu suất làm việc tăng rất nhiều hoặc có tăng nhờ vào việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội tại công sở. Trong trường hợp này, truyền thông xã hội bao gồm gửi tin nhắn nhanh, tin nhắn dài, hội nghị truyền hình, trạng thái, các MXH và các trang web dành cho nhóm như SharePoint.


3. Các công cụ truyền thông xã hội không có ích tại công sở


Cũng trong nghiên cứu của Ipsos và Microsoft, 34% nhân viên cho rằng các nhà quản lí đã đánh giá thấp lợi ích của các công cụ truyền thông xã hội và 37% nói rằng họ có thể làm việc tốt hơn nếu các tổ chức cho phép sử dụng công cụ truyền thông xã hội tại nơi công sở.


Nghiên cứu của McKinsey còn cho biết trong một số ngành nhất định như tiêu thụ hàng hóa đóng gói, dịch vụ tài chính bán lẻ, sản xuất tiên tiến và dịch vụ chuyên nghiệp, năng suất có thể tăng lên từ 20-25% nếu các công ty triển khai các công nghệ xã hội trợ giúp việc hợp tác và liên lạc trong và giữa các doanh nghiệp.


4. Tuyển lao động thông qua MXH chỉ thu hút được những ứng viên chất lượng thấp


Không có rào cản nào trong việc ứng tuyển vào một vị trí thông qua MXH. Chất lượng của các ứng viên vốn dĩ đã khác nhau. Mọi người tin rằng chất lượng các ứng viên sẽ thấp hơn so với việc công ty đăng tuyển thông tin qua một đơn vị tuyển dụng.


Tuy nhiên, nghiên cứu của Học viện Quản trị Kinh doanh Brighton chỉ ra rằng 94% người đi tìm việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để làm việc đó và 49% nhà tuyển dụng nhận thấy sự cải thiện về chất lượng ứng viên. Trên thực tế, 73% số người có độ tuổi từ 18-34 tìm thấy công việc của mình trên MXH.


5. Phương tiện truyền thông xã hội khiến người lao động kém hứng thú với công việc của mình hơn


Một công ty dữ liệu lớn tên là Evolve đã tiến hành một nghiên cứu với khoảng 40.000 nhân viên làm việc trong các tổng đài điện thoại tại Mỹ và nhận thấy những người sử dụng từ 1 đến 4 trang MXH trong một tuần thường gắn bó với công việc của mình lâu hơn những đồng nghiệp khác.


Hơn thế nữa, trong thử nghiệm thứ hai với khoảng 4.991 nhân viên sử dụng thường xuyên hơn năm trang MXH, kết quả bất ngờ cho thấy những người này thu được doanh số cao hơn trong thời gian ngắn hơn so với các đồng nghiệp của mình.


6. Hậu quả tài chính của việc không sử dụng truyền thông xã hội là nhỏ


Một nghiên cứu của Capgemini Consulting và MIT cho thấy việc đào tạo trên phương tiện xã hội và kĩ thuật số là một yếu tố quyết định lí do vì sao các công ty tăng cường vào kĩ thuật số lại có kết quả tốt hơn những đối thủ ít hiểu biết về Web.


Báo cáo cho biết “những công ty tăng cường đầu tư vào kĩ thuật số sẽ thu được nhiều doanh thu hơn đầu tư vào các tài sản cố định của mình”. Các công ty này cũng tạo ra được nhiều doanh thu trên lao động hơn và có hệ số biên lợi nhuận ròng cao hơn cũng như giá trị thị trường cao hơn.


7. MXH sẽ không bao giờ tạo ra doanh thu trực tiếp


Năm 2009, Dell thu được 3 triệu USD doanh số từ một trong số các tài khoản Twitter của mình. Tài khoản này cũng được ghi nhận là biết lắng nghe fan và có liên hệ tốt với người tiêu thụ.


Một thương hiệu cần sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để củng cố lượng tiêu thụ trực tuyến hơn là chỉ dựa vào doanh số trung bình nếu họ muốn có thêm lợi nhuận.


8. Không ai sử dụng tin tức lấy nội dung từ các MXH


Những trang tin tức lấy nội dung từ cộng đồng như Digg, StumbleUpon và Reddit vẫn rất được ưa chuộng. Với sự xuất hiện của Facebook, Twitter và LinkedIn, mọi người có thể cho rằng những trang này đã thay thế các trang tin tức cộng đồng. Tuy nhiên, theo Statcounter, số lượng người hoạt động trên StumbleUpon và Reddit vẫn rất đông. Cả hai trang này có số lượt truy cập trung bình còn cao hơn cả Youtube trong năm ngoái.


9. Những người lớn tuổi không hoạt động tích cực trên MXH vì vậy các doanh nghiệp không cần tập trung vào đối tượng này


Trung tâm nghiên cứu Pew Research Center cho biết trong năm 2013, 43% người Mỹ trên 65 tuổi sử dụng ít nhất một trang MXH so với 26% năm 2010 và 1% năm 2008.


Vào thời điểm xuất bản, có 39 triệu người từ 65 tuổi sử dụng Facebook, Twitter và Skype, vì vậy đừng đánh giá thấp sức mạnh của thế hệ này.


Theo ICTnews.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.