Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

29 điện thoại làm nên thương hiệu Motorola

29 điện thoại làm nên thương hiệu Motorola

Không giống như Microsoft sau khi mua lại Nokia sẽ loại bỏ dần thương hiệu này ra khỏi thiết bị của mình, Lenovo vẫn giữ nguyên thương hiệu Motorola và các thương hiệu liên quan. Do đó thời gian tới, chúng ta vẫn sẽ thấy sự xuất hiện thương hiệu này cũng như nhận được sự hỗ trợ từ Lenovo.


Thế nhưng trước khi về tay hãng máy tính Trung Quốc, Motorola cũng có một thâm niên sản xuất điện thoại 31 năm. Kể từ năm 1983 khi chiếc DynaTAC 8000X ra đời, hãng điện thoại từng được sở hữu bởi Google đã có nhiều sản phẩm ấn tượng, từ điện thoại di động, điện thoại nhắn tin, điện thoại vỏ sò, điện thoại thời trang hay mới nhất là điện thoại thông minh (smartphone).


Dưới đây là 29 cái tên gắn liền với sự phát triển của Motorola:


DynaTAC 8000X (1983)



Là chiếc điện thoại đời đầu của Motorola, DynaTAC 8000X là biểu tượng của sự giàu có và sang trọng ở thời điểm đó. Đây là chiếc điện thoại di động đầu tiên được thương mại hóa.


Motorola MicroTAC 9800X (1989)



Đây là chiếc điện thoại di động gây nhiều sự chú ý nhất trên thế giới khi vừa mới ra mắt nhờ thiết kế nhỏ và nhẹ nhất thời điểm cuối thập niên 1980, đầu những năm 1990.


Motorola StarTAC (1996)



Là phiên bản kế thừa của MicroTAC, chiếc điện thoại vỏ sò này cũng gây được tiếng vang lớn và là một trong những điện thoại di động đầu tiên được bán rộng rãi tới người dùng.


Motorola D160 (1997)



Đây là một phiên bản giá tốt hơn so với chiếc StarSTAC ra mắt một năm sau đó. Đây cũng là chiếc điện thoại đầu tiên áp dụng hình thức PAYG (pay-as-you-go).


Motorola I1000 Plus (1998)



Đây là chiếc điện thoại đầu tiên trên thế giới tích hợp rất nhiều tính năng hiện đại trong cùng một thiết bị bao gồm điện thoại kĩ thuật số, radio 2 chiều, máy nhắn tin, chữ kí số, thậm chí là truy cập Internet, email, fax,…


Motorola V100 (1999)



Được mô tả như một chiếc máy giao tiếp cá nhân và kiêm luôn vai trò điện thoại, V100 đã tạo nên “cơn sốt” nhắn tin thời bấy giờ.


Motorola Timeport P7389i (2000)



Đây là chiếc điện thoại có mặt của GPRS thương mại đầu tiên trên thế giới. P7389i là kết quả hợp tác giữa Motorola và Cisco Systems và tung ra bởi nhà mạng Anh BT Cellnet.


Motorola T720 (2002)



Được mô tả là sự kết hợp của StarSTAC và dòng V60, T720 được người dùng chú ý nhờ khả năng tùy biến cao, chủ sở hữu thiết bị cũng có thể thay đổi tấm mặt trước của điện thoại.


Motorola V70 (2002)



Cũng trong năm 2002, Motorola đã tung ra chiếc điện thoại thời trang và có thiết kế lạ mắt V720. Máy có màn hình nằm trong khung tròn, thiết kế nắp xoay và thậm chí bàn phím máy được trang bị đèn nền neon đẹp mắt.


Motorola C200 (2003)



Đây chính là chiếc điện thoại tuy có thiết kế khá đơn giản, thậm chí là nhàm chán. Nhưng nhờ chiến lược giá rẻ, C200 là sản phẩm bán chạy thứ ba của Motorola.


Motorola I730 (2003)



Đây là sản phẩm tiên phong cho cơn sốt PTT (push-to-talk) thời bấy giờ. Máy có thiết kế nắp gập và có phong cách khá nữ tính.


Motorola A760 (2003)



A760 chính là chiếc điện thoại di động đầu tiên trên thế giới chạy HĐH Linux và công nghệ Java, hoạt động với chức năng là một thiết bị KTS hỗ trợ cá nhân (PDA) đầy đủ.


Motorola Razr V3 (2004)



Có lẽ rất nhiều người không còn xa lạ gì với thiết bị này. V3 là chiếc điện thoại vỏ sò được nhiều người tìm mua nhờ thiết kế mỏng manh và thời trang.


Motorola Rokr E1 (2005)



Có thể xem Rokr E1 là một “phiên bản iPhone gốc” bởi về mặt kĩ thuật, đây là điện thoại đầu tiên được tích hợp với iTunes của Apple.


Motorola Karma U6 (2005)



Chiếc điện thoại nắp gập này cũng được nhiều người dùng chú ý bởi thiết kế của nó. U6 rất giống một viên đã cuội khi gập lại.


Motorola Q (2006)



Đây là chiếc điện thoại chạy HĐH Windows Mobile 5.0 và được xem là một chiếc smartphone thực thụ. Tuy nhiên, máy không sử dụng màn hình cảm ứng mà được điều khiển bởi bàn phím vật lí.


Motorola Krzr K1 (2006)



Khá giống với chiếc Razr V3 nhưng Krzr K1 có thiết kế dài hơn và hẹp hơn. Đây cũng là thiết bị khởi đầu của dòng Krzr.


Motorola SLVR L6 (2006)



Với thiết kế dày 11 mm và nặng chỉ 86 gram, L6 được coi là điện thoại mỏng nhẹ nhất thời bấy giờ. Tuy nhiên, “ngôi vị” này bị Samsung P300 “soán ngôi” sau đó.


Motorola Droid (2009)



Chạy Android, Droid là thiết bị chủ đạo nhắm mục tiêu để “đối đầu” với iOS của Apple khi ra mắt.


Motorola Cliq (2009)



Được tích hợp cả D-Pad và bàn phím QWERTY dạng trượt, Cliq được khá nhiều người dùng lựa chọn khi ra mắt, đặc biệt là giới trẻ và những người yêu thích nhắn tin, đánh văn bản,…


Motorola Droid X (2010)



Motorola Droid X chạy Android và được chú trọng cho việc giải trí. Droid nổi bật với màn hình to 4,3 inch độ phân giải cao 480x854 pixel, bộ vi xử lí 1GHx, RAM 512 MB, máy ảnh chính 8 Mpx,… Đồng thời, máy cũng có thiết kế khá mỏng với 9,9 mm.


Motorola Droid Bionic (2011)



Droid Bionic để lại ấn tượng bởi những khả năng đa phương tiện, các ứng dụng thân thiện với doanh nghiệp và khả năng sử dụng như laptop nhờ các phụ kiện đi kèm. Máy chạy VXL lõi kép và hỗ trợ mạng LTE.


Motorola ATRIX 4G (2011)



Atrix 4G được xem là một trong những smartphone có tốc độ xử lí nhanh nhất thế giới và đoạt được giải thưởng điện thoại hàng đầu tại CES 2011. Máy mang sử mạng của một chiếc laptop thời điểm đó và có thể sử dụng như một chiếc máy tính thông qua bộ chuyển đổi mang tên HD Multimedia Dock.


Motorola Droid Razr Maxx (2012)



Đây là chiếc điện thoại đánh dấu việc phục hồi lại dòng RARZ của Motorola. Máy ấn tượng với tuổi thọ pin cao và các phần mềm thông minh.


Motorola Droid 4 (2012)



Droid 4 được xem là chiếc smartphone cuối cùng của Motorola có trang bị bàn phím QWERTY vật lí.


Motorola Moto X (2013)



Đây là sản phẩm ấn tượng đầu tiên đánh dấu việc mua lại của Google vào năm 2012. Máy có cấu hình rất mạnh thời điểm đó với VXL lõi kép Qualcomm Snapdragon S4 Pro tốc độ 1,7 GHz, RAM 2 GB, GPU Adreno 320, máy ảnh chính 10 Mpx, trước 2 Mpx,…


Motorola Moto G (2013)



Đây chính là smartphone bán chạy nhất trong lịch sử Motorola. Đây cũng là sản phẩm cuối cùng tồn tại dưới “triều đại” Google trước khi thuộc về Lenovo.


Motorola Droid Turbo (2014)



Được công bố cách đây ít lâu, Droid Turbo vừa gây ấn tượng với người dùng thế giới nhờ thiết kế mạnh mẽ và cấu hình “hàng khủng” hiện nay như màn hình AMOLED 5,2 inch, độ phân giải 1440 x 2560 pixel, mật độ điểm ảnh 565ppi, VXL lõi tứ Qualcomm Snapdragon 805 tốc độ 2,7 GHz, RAM 3 GB, camera chính 21 Mpx, phụ 2 Mpx,… và chạy Android 4.4, có thể cập nhật lên 5.0 Lollipop.


Google Nexus 6 (năm 2014)



Nexus 6 là smartphone được phát triển bởi Motorola, chạy Android 5.0 Lollipop. Máy được công bố lần đầu tiên vào ngày 15/10 vừa qua và là sản phẩm Android hàng đầu mới nhất của Google.


Nguồn Pocket-lint.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.