Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

Vấn đề của Twitter: người dùng không xem quảng cáo

Vấn đề của Twitter: người dùng không xem quảng cáo

Các nhà đầu tư từng nâng giá trị của Twitter lên đến hơn 3 tỉ USD hồi đầu tuần qua, có lẽ họ nên xem lại. Vì theo báo cáo tài chính quý 2 vừa qua, doanh thu tăng hơn gấp đôi và số lượng người dùng cũng tăng đáng kể, là dấu hiệu tích cực, trong khi các nhà đầu tư lại sợ kinh doanh của Twitter đang lên đỉnh điểm.


Nhưng ngoài báo cáo tài chính khá xán lạn của Twitter trong quý vừa qua, có một vấn đề cho thấy mối lo mà Twitter đang vấp phải: số lượng ngưởi dùng không xem được quản cáo trên Twitter đang tăng nhanh, trong khi số lượng người dùng xem được quảng cáo lại bị giảm đi.


Theo cập nhật mới nhất, trong 271 triệu người dùng của Twitter, có 14%, tương đương 37,9 triệu người, không bao giờ đăng nhập trực tiếp vào trang web Twitter hoặc ứng dụng di động do Twitter phát triển, là 2 chỗ mà Twitter chạy quảng cáo. Thay vì vậy, họ kết nối thông qua hàng trăm ngàn ứng dụng bên thứ 3 mà người dùng cấp phép cho chúng liên kết đến Twitter.



Ví dụ, nhiều người đọc tweet trên ứng dụng tin tức Flipboard, chia sẻ hình ảnh trên Twitter từ Instagram, check-in vị trí của họ từ Foursquare, hoặc tweet bản tin nào đó từ các trang web tin tức. Họ không bao giờ mở ứng dụng di động của Twitter hoặc đăng nhập vào trang web twitter.com nên họ sẽ không bao giờ bắt gặp quảng cáo.


Một số người dùng khác vẫn được tính là người dùng thường xuyên cho dù họ không tương tác với nội dung Twitter. Vài ứng dụng di động tự động âm thầm lấy dữ liệu từ trên máy chủ Twitter, thậm chí ngay cả khi người dùng không chạy các ứng dụng đó. Những người dùng như vậy đều được xem là người dùng thường xuyên hàng tháng. Đó là một phần lí giải tại sao tỉ lệ phần trăm người dùng Twitter không thấy được quảng cáo tăng từ 7% năm ngoái lên 14% trong năm nay. Theo một nhà phân tích, có thể con số này sẽ còn tăng cao hơn nữa, và ông không liệu được điều gì sẽ xảy ra nếu năm sau tỉ lệ ấy nhảy lên mức 25%.


Hồi hè năm ngoái, Twitter bày tỏ mong muốn người dùng của họ hạ chế việc sử dụng ứng dụng bên thứ 3, và tỉ lệ ấy dần dần giảm theo thời gian và chuyển dần sang sử dung ứng dụng Twitter chính thức. Nhưng từ một năm trước, sự phát triển ồ ạt của các ứng dụng bên thứ 3 đã khiến Twitter thất thoát doanh thu từ quảng cáo.


Twitter cho biết 271 triệu người dùng thường xuyên của họ trong quý 2 vừa qua đại diện cho mức tăng trưởng 6,3% so với 3 tháng trước đó. Đây là quý thứ 2 liên tiép Twitter đạt được mức tăng trưởng ấn tượng sau nhiều năm điêu đứng.


Bỏ qua số người dùng không bao giờ thấy quảng cáo trên Twitter, mức tăng trưởng về số lượng người dùng của Twitter lại chậm hơn, giảm từ 4,4% cách nay 3 tháng xuống còn 3,9%. Có nghĩa là người dùng truy cập Twitter qua ứng dụng bên thứ 3 tăng 24% trong quý 2, so với 17% trong quý 1. Điều quan trọng là Twitter không thu lợi gì được từ ứng dụng bên thứ 3 cả bởi vì Twitter không đưa quảng cáo vào các ứng dụng bên thứ 3 được. Người phát ngôn của Twitter không đưa ra nhận xét gì hay tiết lộ số lượng ứng dụng bên thứ 3 liên kết với Twitter.


Để đảm bảo doanh thu, Twitter cũng đã đưa ra vài cách để hiển thị một số kiểu quảng cáo khác nhau, nhằm kiếm tiền từ mỗi người dùng, nhất là với người dùng di động. Kết quả là doanh thu trong quý vừa qua đạt hơn 312,2 triệu USD. Có thể về sau Twitter kiếm cách bán quảng cáo cho đại đa số người sử dụng, là những đối tượng chưa bao giờ truy cập đến trang web hoặc ứng dụng của Twitter.


Thực sự, thái độ của người dùng đối với các ứng dụng bên thứ 3 cũng giúp ích cho Twitter về lâu về dài. Nhiều người đóng góp nội dung, đặc biệt là những người dùng nổi tiếng như siêu sao bóng đá, ca sĩ, diễn viên… khi họ chia sẻ hình ảnh từ Instagram, có đến cả triệu người theo dõi. Đây là điều hấp dẫn hơn so với việc diễn viên, ca sĩ đó mở một ứng dụng Twitter riêng và tự đăng quảng cáo của mình trên đó.


Nhưng đến nay, những ứng dụng bên thứ 3 liên quan đến người dùng vẫn rất mập mờ, không chắc chắn. Một phần nào đó trong những ứng dụng này khiến người dùng không bao giờ xem được hoặc chia sẻ được nội dung của Twitter. Twitter cũng cho biết những ứng dụng này có khả năng tự động liên lạc với máy chủ để cập nhật đều đặn. Điều này có nghĩa là vài ứng dụng có thể ping đến máy chủ Twitter ngay cả khi người dùng không mở ứng dụng đó.


Và người dùng lại không mấy quan tâm tới “bot”, là từ chỉ các tài khoản giả mạo hoặc rác. Twitter cho biết có khoảng dưới 5% tài khoản thuộc loại như vậy.


Theo tờ Wall Street Journal, Twitter đã lên kế hoạch đưa ra những thước đo mới thực tế hơn, để biết được rằng người dùng nào đăng nhập ít nhất 1 tháng vào Twitter. So với Facebook, trang web này có số người dùng thường xuyên tính theo tháng gấp gần 5 lần so với Twitter, đạt đến 1,32 tỉ.


Theo thống kê của Facebook hồi cuối năm 2011, họ chỉ có ít hơn 5% người dùng thường xuyên truy cập đến Facebook thông qua ứng dụng bên thứ 3. Tỉ lệ này chưa tính đến việc người dùng nhấn chia sẻ hoặc Like từ một ứng dụng bên thứ 3 hay từ một trang web nào đó liên kết với Facebook. Người phát ngôn Facebook từ chối tiết lộ số liệu mới nhất.


Theo PC World VN.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.