Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

Nhà mạng không cho rằng mình mập mờ để lấy tiền khách

Nhà mạng không cho rằng mình mập mờ để lấy tiền khách

Theo Thanh tra Bộ TT&TT, các mạng di động lớn tích hợp sẵn một số ứng dụng dịch vụ giá trị gia tăng trên SIM khi cung cấp cho khách hàng nhưng lại không thông tin rõ ràng về cước. Song, nhà mạng lại không cho rằng mình mập mờ để lấy tiền của khách trong cung cấp các dịch vụ này.



Nguồn tin từ cơ quan thanh tra của Bộ TT&TT cho biết, trong năm 2013, ba nhà mạng lớn là VinaPhone, MobiFone, Viettel đều vi phạm trong việc tích hợp sẵn ứng dụng trên SIM để bán cho người sử dụng nhưng không niêm yết rõ ràng, chính xác giá cước, không có thông tin cảnh báo về giá cước, không cho phép người sử dụng xác nhận đồng ý hay không đồng ý với mức phí đưa ra.


Trong vòng một năm, dịch vụ có tên IOD tích hợp trên SIM đã đem lại doanh thu gần hơn 21 tỉ đồng cho VinaPhone. Trong 13 tháng, MobiFone đã hợp tác với các công ty cung cấp dịch vụ nội dung để cung cấp ứng dụng SuperSIM và LiveInfo tích hợp sẵn trên SIM, đạt doanh thu gần 150 tỉ đồng. Viettel cũng tích hợp trên SIM phần mềm Viettel Plus và đem lại doanh thu khá lớn...


Cung cấp thông tin cho báo chí về vấn đề trên, các mạng di động lại không cho rằng mình mập mờ để lấy tiền của khách. Ông Nguyễn Đình Chiến, Phó tổng giám đốc Công ty MobiFone cho rằng các mạng di động đã cung cấp các dịch vụ được tích hợp sẵn trên SIM từ 5 năm trước. Song một năm gần đây nhà nước mới có quy định về việc cài ứng dụng trên SIM.


“Do quy định có sau khi các nhà mạng cung cấp dịch vụ nên ngay lập tức yêu cầu các nhà mạng dừng và sửa đổi là không khả thi – cần phải có thời gian. Chúng tôi đã giải trình với thanh tra Bộ TT&TT về việc này”, ông Chiến nói.


Ông Chiến cũng cho rằng các nhà mạng cung cấp dịch vụ tích hợp sẵn trên SIM và thu cước không hề mập mờ. Bởi theo ông Chiến, dịch vụ LiveInfo được cung cấp theo dạng chạy chữ trên màn hình điện thoại và nếu khách hàng đọc dòng chữ này không bị trừ phí. Song nếu khách hàng quan tâm và click vào đọc chi tiết thì mới phải trả tiền. Ông Chiến còn cho rằng, theo quy định các mạng có niêm yết công khai giá của dịch vụ tích hợp sẵn trên SIM trên website và có giải đáp thông tin trên các tổng đài giải đáp thắc mắc của khách hàng.


“Kì vọng của cơ quan quản lí yêu cầu khách hàng sử dụng các dịch vụ trên phải có bước xác nhận là có mua và giá niêm yết phải đầy đủ và rõ ràng. Nhưng thực tế do giới hạn công nghệ của SIM cách đây 5 – 6 năm chưa làm được. Nhà mạng xin có thời gian để sửa đổi hệ thống chứ chưa thể làm ngay”, ông Chiến nói.


Theo báo cáo của cơ quan thanh tra của Bộ TT&TT, hiện tổng số thuê bao của các nhà mạng trên cả nước đạt gần 121 triệu, trong đó có gần 114 triệu thuê bao trả trước.


Ngoài sai phạm nói trên, trong năm 2013, khi bộ tiến hành thanh tra Viettel, VinaPhone, MobiFone, Gmobile, Hanoi Telecom về quản lí thuê bao di động trả trước thì tất cả các mạng đều có sai phạm như thông tin thuê bao không có ảnh hoặc ảnh sai; nhiều số thuê bao có thông tin khác nhau nhưng lại sử dụng chung ảnh,...


Theo Kinh Tế Sài Gòn



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.