Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Tuần này, công khai mọi thông tin về giá cước 3G

Tuần này, công khai mọi thông tin về giá cước 3G

Theo Cục Viễn thông thuộc Bộ TT&TT, mặc dù cước 3G của 3 nhà mạng lớn đã điều chỉnh, giá cước vẫn chỉ chiếm chưa đến 60% giá thành dịch vụ.


Ông Lê Nam Thắng, Thứ trưởng Bộ TT&TT cho biết tại buổi họp giao ban quản lí nhà nước với các hãng viễn thông có hạ tầng ngày 1/11/2013 tại Cục Viễn thông, sau khi gửi báo cáo về việc điều chỉnh giá cước 3G đến Chính phủ, Bộ sẽ công khai mọi thông tin liên quan đến giá cước 3G trong tuần này.


Theo số liệu của Phòng quản lí giá cước (Cục Viễn thông), tính đến tháng 9/2013, Việt Nam có khoảng 18,9 triệu thuê bao 3G đang hoạt động (có phát sinh cước). Đợt tăng giá cước 3G vừa qua, Cục Viễn thông cho rằng chỉ có tác động đến 8,9% thuê bao trong tổng số 91 triệu thuê bao di động phát sinh cước trong tháng 9. Tuy nhiên, nếu so sánh riêng với thuê bao 3G, con số này chiếm 43%.


Ảnh

Tuần tới, công khai mọi thông tin về giá cước 3G



Theo Cục này, mặc dù cước 3G của 3 nhà mạng lớn đã điều chỉnh, với gói tăng cao nhất 40%, từ 50.000 lên 70.000 đồng/tháng (gói không giới hạn) nhưng giá cước đã điều chỉnh vẫn chỉ chiếm chưa đến 60% giá thành dịch vụ.


Ngoài ra, so với mặt bằng quốc tế, khu vực giá cước Việt Nam vẫn chỉ bằng 30-40% (so sánh trên thu nhập quốc dân đầu người trên toàn thế giới, khu vực và cả ASEAN).


Theo ông Phạm Hồng Hải, Cục trưởng Cục Viễn thông, việc các nhà mạng điều chỉnh giá cước 3G hôm 16/10 là do không công bố thông tin công khai rõ ràng cho xã hội nên mới có nhiều câu hỏi nghi vấn đặt ra như nhà mạng có bắt tay tăng giá, mức giá thành cụ thể ra sao, liệu có chuyện kiểm soát giá thành…


Thứ trưởng Lê Nam Thắng thẳng thắn cho rằng, việc quản lí giá cước là phải công khai minh bạch mọi thông tin liên quan đến giá cước, chất lượng dịch vụ gắn với các gói cước, các thông tin liên quan đến điều kiện cung cấp dịch, các yếu tố hình thành giá cước… nhưng nhà mạng lại chưa làm tốt các khâu này và cũng chưa công khai rõ ràng.


Ngoài ra, theo Thứ trưởng Thắng, vấn đề quản lí chất lượng dịch vụ phải theo đúng quy định pháp luật, những dịch vụ nào đưa ra thị trường thì phải công bố chất lượng đi kèm dịch vụ. Cần phải có kiểm tra, quản lí, giám sát chất lượng dịch vụ mang tính định lượng nhiều hơn như 3G.



Dù giá 3G ở Việt Nam đang khá rẻ nhưng chất lượng 3G lại đang “có vấn đề” vì lúc xem rất tốt, lúc lại chập chờn, thậm chí có lúc 3G “tậm tịt” hẳn.


Ông Lê Nam Thắng, thứ trưởng Bộ TT&TT



Trên thực tế, Phòng quản lí giá cước của Bộ chỉ thực hiện đăng kí, thực hiện kiểm soát xem việc giá cước đó ban hành có đúng cơ sở, đúng thẩm quyền không, có tác động như thế nào, nhưng doanh nghiệp lại thông báo với người dùng là “được Bộ TT&TT phê duyệt”.


“Bộ có phê duyệt từng gói cước một đâu. Nói như thế là doanh nghiệp đã đẩy trách nhiệm cho Bộ”, ông Thắng nói.


Về việc điều chỉnh giá cước viễn thông, theo lãnh đạo Bộ TT&TT, đã có định hướng rõ ràng và đã xác định trong quy hoạch phát triển viễn thông đến năm 2020. Mặt khác, sở cứ để xây dựng điều chỉnh giá cước 3G cũng rất đầy đủ, như luật Viễn thông quy định giá cước được xây dựng trên cơ sở giá thành, cung cầu thị trường và mặt bằng tiêu thụ; Luật Giá cũng quy định như vậy; rồi Luật Cạnh tranh…


Ông Thắng cho biết, sớm thì đầu tuần này, Bộ TT&TT sau khi làm việc với Bộ Công Thương và báo cáo gửi tới Chính phủ về việc điều chỉnh cước 3G, sau đó Bộ sẽ công khai tất cả các thông tin mà Bộ báo cáo Chính phủ cũng như mọi thắc mắc của dư luận về việc tăng giá cước 3G.



Bộ sẽ có thông tư yêu cầu thực hiện NĐ 63 và doanh nghiệp viễn thông phải công khai các thông tin theo quy định với cơ quan nhà nước, với xã hội. Doanh nghiệp không có chuyện cứ lấy lí do bí mật của doanh nghiệp mà không công bố thông tin được.


Ông Lê Nam Thắng, thứ trưởng Bộ TT&TT



Theo VnEconomy



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.