Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

Sẽ công bố tiêu chí xác định và chặn tin nhắn rác

Sẽ công bố tiêu chí xác định và chặn tin nhắn rác

Cần quy định rõ trách nhiệm của nhà mạng trong việc chặn tin nhắn rác



Những tin nhắn này được phát tán từ rất nhiều nguồn khác nhau, từ doanh nghiệp, tổ chức cho đến cá nhân người sử dụng dịch vụ, khiến cho việc kiểm tra, thanh tra và xử phạt hết sức khó khăn. Thủ đoạn chung vẫn là các đối tượng phát tán sử dụng những thiết bị như modem hoặc SIM box, mua SIM trả trước để gửi hàng loạt tin nhắn quảng cáo. Sau khi tài khoản hết tiền thì SIM đó cũng bị vứt bỏ, do đó, kể cả nhà mạng có tiến hành kiểm tra và khóa số điện thoại này thì cũng không có tác dụng nữa.


Đối tượng của tin nhắn rác là các thuê bao hoạt động lâu dài, có thu nhập ổn định, phù hợp với nhóm khách hàng tiềm năng của bất động sản hay SIM số đẹp.... Điều này giải thích vì sao có những số điện thoại nhận được rất nhiều tin nhắn quảng cáo trong ngày, trong khi số khác chỉ bị quấy rầy theo đơn vị tuần.


Giải thích cho việc các đối tượng phát tán tin nhắn rác "biết sai mà vẫn làm liều", đại diện Cục Viễn thông cho biết, hiện tại, chi phí cho việc sử dụng dịch vụ qua tin nhắn quảng cáo hợp pháp rất cao, khoảng 600 đồng/tin nhắn. Trong khi đó, chi phí cho việc gửi tin nhắn rác chỉ khoảng 250 đ/tin, khi có khuyến mãi từ nhà mạng thì thậm chí giảm chỉ còn 100-150đ/tin. Các nhà mạng lại thường xuyên có những chương trình khuyến mại nên các đối tượng càng "mặn mà" với kênh phát tán tin nhắn này.


Bên cạnh đó, tình trạng lộ lọt, mua bán thông tin cá nhân cũng vẫn còn phổ biến, đối tượng phát tán tin nhắn thì hoạt động tinh vi, liên tục điều chỉnh phương thức để thoát khỏi sự phát hiện của hệ thống kĩ thuật mà nhà mạng triển khai.


Cần một tiêu chí chung!


Sau khi Chỉ thị 82 được ban hành, cả ba nhà mạng lớn là MobiFone, VinaPhone và Viettel đều cho biết đã áp dụng hàng rào kĩ thuật chặn tin nhắn bằng tần suất, chẳng hạn như Viettel chặn những thuê bao gửi 52 tin nhắn/phút, còn MobiFone "siết chặt" hơn với quy định tần suất 30 tin nhắn/phút.


Tuy nhiên, mỗi nhà mạng đang áp dụng một tần suất của riêng mình, dẫn tới việc thiếu đồng bộ trên thị trường. Có những nhà mạng thời gian đầu làm rất mạnh, nhưng sau đó, thấy các đối thủ chỉ thực hiện "cầm chừng" thì cũng điều chỉnh theo. Tương tự, có một số doanh nghiệp áp dụng tới 7-8 quy định về chặn tin nhắn rác, trong khi số khác lại chỉ áp dụng 2-3 luật chặn mà thôi.


"Nếu để doanh nghiệp di động "tự hiểu" về yêu cầu ngăn chặn tin nhắn rác thì sẽ dẫn tới cạnh tranh không công bằng, vì mỗi doanh nghiệp sẽ có một cách hiểu khác nhau. Có nhà mạng làm mạnh, chặn 100.000 SMS/ngày nhưng cũng nhà mạng lại chỉ chặn 50.000 SMS/ngày, do còn dính dáng đến doanh thu, đến quyền lợi. Do đó, điều quan trọng là cần một sự hành động đồng đều giữa các nhà mạng. Muốn vậy, Bộ phải ra được tiêu chí để làm sở cứ, chấm dứt tình trạng mỗi doanh nghiệp làm 1 kiểu như hiện nay", đại diện Thanh tra Bộ đề xuất.


Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Ngọc Mơ, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông cũng cho rằng, doanh nghiệp viễn thông vẫn là đối tượng có trách nhiệm (và quyền) chặn tin nhắn rác một cách trực tiếp. Tuy nhiên, trong thời gian tới, cơ quan quản lí sẽ đưa ra tiêu chí để chặn tin nhắn rác cũng như danh sách các số điện thoại, các từ khóa cần chặn. Danh sách này sẽ được cập nhật thường xuyên theo tình hình thực tế.


Liên quan đến vấn đề này, đại diện Cục An toàn thông tin cho rằng, cơ chế hậu kiểm đang áp dụng (kiểm tra, thanh tra, thu hồi số điện thoại vi phạm) không có nhiều tác dụng vì 95-97% tin nhắn rác đều đến từ thuê bao trả trước khai báo thông tin thiếu chính xác. Do đó, cần áp dụng cơ chế tiền kiểm, cho phép hệ thống kĩ thuật của nhà mạng chủ động chặn trước những tin nhắn khả nghi, dựa trên việc tính toán kết hợp cả số lượng, tần suất lẫn tốc độ gửi tin.


Chính vì tầm quan trọng của bộ tiêu chí như vậy nên Thứ trưởng Bộ TT&TT Lê Nam Thắng vừa yêu cầu Cục An toàn thông tin phải gấp rút xây dựng nội dung này, trình lãnh đạo Bộ để sớm ban hành, làm căn cứ cho quyền và nghĩa vụ của nhà mạng.


"Trước hết, cần phải hướng dẫn được cụ thể thế nào là tin nhắn rác. Nghị định 90 về Quảng cáo nêu rõ, tin nhắn rác trước hết là tin nhắn quảng cáo, do đó, những tin nhắn quảng cáo nào không tuân thủ quy định về quảng cáo đều có thể xếp vào diện "cần phải xem xét".


Sau bước này sẽ đến xác đình tần suất và số lượng tin nhắn được gửi đi. Tin nhắn rác ở mức độ nào thì phải chặn ngay, nếu chỉ gửi 1 - 2 lần thì chưa ảnh hưởng nhiều, có thể chưa cần chặn trong giai đoạn đầu", Thứ trưởng chỉ đạo. Sau này, Bộ sẽ tiến hành công bố định kì quy định về tần suất và số lượng tin nhắn được gửi để doanh nghiệp áp dụng, thay vì quy định cứng trong các văn bản quy phạm sẽ khó điều chỉnh theo tình hình thực tế.


Thứ trưởng Phạm Hồng Hải cũng cho rằng, số lượng tin nhắn gửi đi chính là tiêu chí quan trọng nhất, cũng là khả thi nhất về mặt kĩ thuật. Tuy nhiên, Thứ trưởng nhấn mạnh, tin nhắn rác là vấn đề rất phức tạp nên chỉ một vài giải pháp riêng lẻ sẽ không thể giải quyết được. Điều quan trọng là các đơn vị liên quan đều phải tham gia vào một giải pháp tổng thể, toàn diện và hết sức cụ thể, khi triển khai cũng phải đồng bộ, thống nhất...


Phải quy rõ trách nhiệm cho nhà mạng


Tuy nhiên, các ý kiến đều nhất trí rằng nếu cơ quan quản lí không quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của nhà mạng thì sẽ không thể ngăn chặn triệt để tin nhắn rác, bởi nhà mạng mới là người chặn trực tiếp, cũng chính là gốc rễ của vấn đề.


"Cần lấy doanh nghiệp viễn thông và quản lí thuê bao viễn thông làm điểm đột phá để chặn tin nhắn rác", Thứ trưởng Thắng khẳng định. Chỉ khi các nhà mạng cùng toàn tâm toàn ý tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ này, và sự triển khai hành động của họ là ngang bằng với nhau thì mới đảm bảo được sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trên thị trường.


Một số ý kiến gợi ý rằng, nên chăng sẽ coi chặn tin nhắn rác là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cung cấp dịch vụ của các nhà mạng và công bố rộng rãi trước dư luận để tăng trách nhiệm cho doanh nghiệp.


"Bắt đúng bệnh thì sẽ giải quyết được ngay, nhìn thấy chuyển biến ngay. Còn cứ quy định chung chung anh phải làm thế này thế kia thì không bao giờ ra được kết quả", Thứ trưởng Phạm Hồng Hải kết luận.


Theo VietNamNet.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.