Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015

Sẽ chuyển băng tần từ “nhà đài” sang “nhà mạng” từ năm 2016

Sẽ chuyển băng tần từ “nhà đài” sang “nhà mạng” từ năm 2016

Trong buổi làm việc với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới đây, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Viettel đã kiến nghị cần sớm chuyển băng tần số hóa truyền hình sang cho di động để đảm bảo sử dụng hiệu quả tài nguyên kho số, đem lại lợi ích cho người sử dụng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.


Trả lời kiến nghị này, Thứ trưởng Bộ TT&TT Lê Nam Thắng cho biết, lộ trình số hóa truyền hình đang được triển khai đúng tiến độ. Vì vậy, trong năm 2016 có thể chuyển băng tần 700 MHz dôi dư sau khi tiến hành số hóa truyền hình cho các mạng di động sử dụng.


Đây không phải là lần đầu tiên Viettel kiến nghị sớm đưa vào sử dụng băng tần 700 MHz sau khi tiến hành số hóa truyền hình. Cách đây 3 năm, Viettel đã gửi ý kiến này lên Bộ TT&TT. Theo Viettel, trong lĩnh vực di động, cứ 3 năm lại có thêm công nghệ mới có tốc độ truyền dẫn tăng gấp 6 lần nhưng nhu cầu băng thông tăng tới 23 lần. Như vậy, nhà mạng sẽ phải đối mặt với việc gia tăng tốc độ và nhu cầu băng thông tăng khi công nghệ mới được ứng dụng.


Khi Việt Nam tiến hành số hoá dịch vụ truyền hình sẽ dôi dư ra băng tần 700 MHz. Băng tần này có thể sử dụng cho dịch vụ di động băng thông rộng; có vùng phủ tốt hơn cho vùng nông thôn và có suất đầu tư giảm nên nhà mạng có điều kiện giảm giá dịch vụ cung cấp cho người dân nông thôn. Theo tính toán của Viettel, nếu để phủ sóng 4G LTE ở Hà Nội với băng tần 700 MHz thì chỉ cần 70 trạm BTS, nhưng nếu triển khai trên băng tần 2.6 GHz thì cần tới 130 trạm BTS.


Phía Viettel cho biết, theo số liệu thống kê thì lĩnh vực di động có thể tạo ra doanh thu tăng gấp 4 lần so với doanh thu từ truyền hình. Đại diện Viettel cũng đưa ra số liệu về ảnh hưởng của dịch vụ băng rộng tác động đến GDP của quốc gia. Cụ thể nếu tăng được 10% thuê bao di động sẽ góp phần tăng được 1% GDP, nhưng nếu tăng được 10% thuê bao Internet băng rộng thì tăng được 1,5% GDP. Như vậy, băng rộng có tác động rất lớn đối với việc phát triển của quốc gia.


Theo quy định của Luật Viễn thông, việc cấp tần số phải thông qua đấu giá. Như vậy, Chính phủ sẽ thu được khoản tiền từ đấu giá tần số khi số hoá dịch vụ truyền hình.



Kết luận tại phiên họp lần thứ 7 Ban chỉ đạo số hóa truyền hình hôm 21/1/2015, Bộ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Bắc Son cho biết, về thời điểm ngắt sóng truyền hình analog tại 5 thành phố lớn trong năm 2015, sẽ chỉ ngắt sóng truyền hình analog khi 95% người dân đã sử dụng được truyền hình số, nếu địa phương nào chưa đạt được chỉ tiêu này sẽ chưa ngắt sóng.


Theo kế hoạch, đến 1/7/2015 sẽ ngắt sóng truyền hình analog ở Đà Nẵng và Bắc Quảng Nam, đến 1/1/2016 ngắt sóng truyền hình analog ở 4 thành phố: Hà Nội, TP.HCM, Cần Thơ và Hải Phòng. Trước đây, 3 thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội và Cần Thơ đã có văn bản gửi Bộ TT&TT xin lùi thời hạn ngắt sóng truyền hình analog vì lo ngại vấn đề tràn sóng analog từ các tỉnh lân cận vào những thành phố này. VTV cũng đã báo cáo Bộ TT&TT về khả năng tràn sóng chắc chắn xảy ra nhưng việc chặn tràn sóng là không thể. Việc tràn sóng ở những tỉnh lân cận vào các thành phố này sẽ ảnh hưởng lớn đến doanh thu quảng cáo của các đài truyền hình.


Theo ông Đoàn Quang Hoan, Cục trưởng Cục Tần số Vô tuyến điện, doanh thu quảng cáo chủ yếu chỉ trên các đài quảng bá là chính. Cách đây mới 2 năm, chỉ số quảng cáo trên các kênh truyền hình số của VTC bằng 0. Do đó, việc tắt sóng truyền hình analog sớm là phần bất lợi về quảng cáo cho 5 địa phương trong vòng 1 năm. Tuy nhiên, tổn thất này sẽ rất nhỏ so với quyết tâm chính trị được đặt ra khi Bộ TT&TT quyết tâm triển khai thành công đề án số hóa truyền hình theo đúng lộ trình.


Hiện tại chỉ còn Hà Nội vẫn tiếp tục đề nghị được lùi thời điểm tắt sóng truyền hình analog tại các quận huyện thuộc Hà Nội (cũ) cùng thời điểm với Hà Tây (cũ), tức là sẽ tắt sóng truyền hình analog trên toàn bộ TP.Hà Nội vào 31/12/2016.




Theo ICTnews.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.