Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

Đã có đủ công nghệ để kiểm chứng thuyết tương đối rộng của Einstein?

Đã có đủ công nghệ để kiểm chứng thuyết tương đối rộng của Einstein?

Thuyết tương đối rộng của Albert Einstein là lí thuyết quan trọng nhất trong vật lí hiện đại. Tuy nhiên, trong suốt 100 năm kê từ khi giới thiệu cho đến nay, người ta vẫn chưa thể tạo ra các điều kiện thí nghiệm cực hạn nhằm kiểm chứng lí thuyết này một cách trọn vẹn.


Năm 1915, thiên tài vật lí Albert Einstein đã công bố thuyết tương đối rộng diễn tả lực hấp dẫn như một tính chất cơ bản của không thời gian. Đồng thời, ông dùng các phương trình để biểu thị sự tương quan giữa năng lượng, động lượng của vật chất và bức xạ trong một trạng thái cụ thể. Từ đó đến nay đã 100 năm trôi qua, thuyết tương đối đã trở thành trụ cột của vật lí hiện đại và bất cứ ai tiếp cận tới vật lí đều phải chấp nhận nó. Tuy nhiên, các nhà khoa học luôn muốn tạo ra những điều kiện cực hạn nhằm kiểm chứng thuyết tương đối một cách trọn vẹn.


Kiểm chứng học thuyết của Einstein


Giờ đây, các nhà khoa học cho biết rằng họ đã có trong tay đủ công nghệ để bắt đầu truy tìm những bằng chứng của thuyết tương đối. Clifford Will, nhà vật lí lí thuyết tại Đại học Florida đã phát biểu: "Đối với tôi, những điều mà thuyết tương đối rộng đã làm trong suốt 100 năm qua là thật sự tuyệt vời. Những gì Einstein viết chính là thứ mà chúng ta sử dụng ngày nay." Will cho biết, thuyết tương đối diễn tả sự hấp dẫn không phải là một lực như thuyết cổ điển của Isaac Newton, là một sự uốn cong không gian và thời gian do khối lượng của vật thể.


Theo đó, nguyên nhân Trái Đất có quỹ đạo quay quanh Mặt Trời không phải vì nó hút Trái Đất, mà là do Mặt Trời đã bẻ cong không - thời gian. Có thể hình dung như bạn bỏ một quả bóng bowling vào một tấm chăn đang căng ra và tấm chăn sẽ uống cong theo hình dạng của quả bóng. Bên cạnh đó, thuyết tương đối còn đưa ra những dự đoán về lỗ đen, nơi mà không thời gian bị bẻ cong đến mức độ không có gì ở bên trong nó kể cả ánh sáng có thể thoát ra ngoài. Ngoài ra, thuyết tương đối rộng còn cung cấp cơ sở lí thuyết cho tiến trình dãn nỡ ngày càng nhanh của vũ trụ.


Trên thực tế, thuyết tương đối rộng đã được xác nhận qua nhiều vấn đề thực tiễn. Chính bản thân Einstein đã nổi tiếng bằng cách dự đoán chính xác quỹ đạo chuyển động của sao Thủy, điều mà các định luật vật lí của Newton không thể diễn tả chính xác. Thuyết của Einstein còn dự đoán rằng nếu một vật thể có khối lượng đủ lớn thì nó sẽ có thể uốn cong ánh sáng. Đây là hiệu ứng thấu kính hấp dẫn và thường được các nhà thiên văn học dùng trong việc dò tìm các ngoại hành tinh.


Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Will cho biết rằng "Vẫn còn thiếu một mảnh bằng chứng để khảo sát có gì sai với thuyết tương đối rộng hay không. Điều quan trọng là phải kiểm chứng học thuyết trong những điều kiện chưa từng được thực hiện trước đây." Về cơ bản, lập luận của thuyết tương đối rộng hoàn toàn có thể lí giải được những tính chất của lực hấp dẫn thông thường, những hoạt động của con người trên Trái Đất hoặc của những hành tinh. Tuy nhiên, chưa từng có thử nghiệm nào đặt thuyết tương đối vào trong những trạng thái cực hạn, những vùng nằm trong ranh giới của vật lí.


Do đó, các nhà nghiên cứu quyết định kiểm chứng thuyết tương đối rộng bằng các gợn của độ cong của không thời gian. Đây được gọi sóng hấp dẫn và được sinh ra trong những sự kiện dữ dội như trong lúc 2 vật thể đang hợp nhất, bên trong lỗ đen hoặc các đối tượng vô cùng dày đặc như sao neutron. "Những trận pháo hoa vũ trụ này" sẽ sản sinh ra những đốm sáng rất nhỏ trong không - thời gian. Điển hình như một sự kiện như vậy có thể thay đổi những khoảng cách tưởng chừng như tĩnh trên Trái Đất. Nếu 2 hỗ đen va chạm và sáp nhập trong thiên hà Milky Way, sóng hấp dẫn sinh ra sẽ kéo dài và nén 2 vật thể trên Trái Đất cách nhau 1 mét, khiến khoảng cách giữa chúng giảm đi khoảng 1/1000 đường kính của hạt nhân nguyên tử.


Theo Will, giờ đây các nhà khoa học đã có thể thực hiện thử nghiệm với khả năng phát hiện ra phát hiện ra gợn sóng không thời gian từ các sự kiện trên. Ông cho biết: "Trong vài năm tới, chúng ta sẽ có rất nhiều cơ hội trực tiếp phát hiện ra sóng hấp dẫn." Hiện tại, hệ thống giao thoa kế laser nhằm quan sát sóng hấp dẫn (LIGO) đặt tại thành phố Richland, Washington, và Livingston, Louisiana đang được sử dụng để phát hiện ra sóng hấp dẫn thông qua những biến dạng cực nhỏ trong 2 bộ dò dài, hình chữ L. Khi những gợn sóng không thời gian đi qua hệ thống này, chúng sẽ kéo dài và nén không gian, làm thay đổi độ dài của cảm biến và LIGO sẽ đo được sự thay đổi này.


Hệ thống LIGO đã đi vào hoạt động từ năm 2002 nhưng sau đó chưa thể phát hiện ra bất cứ gợn sóng hấp dẫn nào. Vào năm 2010, nó tạm ngừng hoạt động để tiến hành nâng cấp lên phiên bản mới mang tên Advanced LIGO và theo dự kiến sẽ tái khởi động vào cuối năm nay. Ngoài LIGO, các nhà khoa học cũng đang thực hiện hàng loạt các thí nghiệm nhằm phát hiện ra sóng hấp dẫn như dùng sự giao thoa của các nguyên tử siêu lạnh, xác định chênh lệch thời gian đi tới Trái Đất của những tín hiệu từ sao xung hoặc xác định tác động của sóng hấp dẫn nguyên thủy trên nền vi sóng vũ trụ,…


Mục tiêu dài hạn hơn của vật lí hiện đại: Hợp nhất thuyết tương đối và cơ chế lượng tử


Tuy nhiên, Will cho rằng nếu các nhà khoa học phát hiện ra sóng hấp dẫn thì điều đó chỉ tiếp tục củng cố cho lập luận của thuyết tương đối: "Theo tôi, chúng ra sẽ tiếp tục chứng minh tính đúng đắn của thuyết tương đối rộng." Nếu là vậy thì cần gì phải tiếp tục thực hiện nó? Xin thưa một trong những mục tiêu dài hạn của vật lí hiện tại còn là hợp nhất thuyết tương đối rộng và cơ chế lượng tử. Nói cách khác là hợp nhất khoa học của thế giới vĩ mô với thể giới cực nhỏ.


Tuy nhiên, Will cho rằng nếu người ta phát hiện ra những thứ khác, thí dụ như hấp dẫn lượng tử, thì thuyết tương đối rộng phải tiếp tục được điều chỉnh và củng cố lại. Mặt khác, bất cứ thử nghiệm khả thi nào có khả năng phát hiện ra các hiệu ứng của hấp dẫn lượng tử đều đòi hỏi một lượng năng lượng cực kì lớn và đây chính là điều bất khả thi. "Nhưng bạn sẽ không bao giờ biết được rằng, có thể có những hiệu ứng kì lạ trong thế giới lượng tử vốn cực kì nhỏ nhưng có thể phát hiện được."


Theo Tinh Tế.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.