Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

Những điện thoại mang tính biểu tượng trước kỉ nguyên iPhone

Những điện thoại mang tính biểu tượng trước kỉ nguyên iPhone

T-Mobile Sidekick 3 (2006)


Khi Nokia và Sony Ericsson ở vị trí cao trên thị trường châu Âu và nhiều khu vực khác của thế giới, Sidekick 3 lại tạo cơn sốt tại thị trường Mỹ.



Chiếc điện thoại thân thiện với nhắn tin này đi kèm bàn phím QWERTY vật lí và màn hình dạng trượt khỏi bàn phím, được sử dụng bởi hầu hết thanh thiếu niên Mỹ lúc bấy giờ. Nó nhanh chóng trở thành một trong những điện thoại nhắn tin văn bản tốt nhất, mở ra tương lai cho các công ty như Whatsapp, Skype, Viber.... phát triển.


BlackBerry Pearl 8100 (2006)



Thuộc quyền sở hữu của Research in Motion (RIM) từ Canada, BlackBerry là một trong những thương hiệu đình đám trong khoảng giữa những năm 2000. Và Pearl 8100 là một trong những sản phẩm phổ biến nhất của công ty lúc bấy giờ, mang lại cho RIM một nguồn lợi nhuận rất lớn.


Motorola Q (2005)



Trước khi phát hành Windows Phone với Live Tile, Microsoft cũng đã gây tiếng vang với nền tảng Windows Mobile, có thiết kế gần gũi nền tảng Windows trên PC, nhờ đó nhận được vị trí cao trong thị trường smartphone. Được ra mắt vào năm 2005, Motorola Q là một trong những điện thoại mà Microsoft cảm thấy tự hào nhất.


Nokia N95 (2006)



Được phát hành vào năm 2006, Nokia N95 chạy trên nền tảng Symbian và trở thành chiếc smartphone cho trải nghiệm chụp ảnh hết sức ấn tượng, có thể ảnh hưởng đến tận ngày nay. Ở thời điểm đó, Symbian đã thể hiện được những công nghệ tiên tiến có trên nó.


Nokia 6300 (2007)



6300 của Nokia là chiếc điện thoại hướng đến thị trường quần chúng gây sự chú ý mạnh mẽ nhờ yếu tố thiết kế với hình dáng dạng thanh cổ điển, khung nhôm và bàn phím khá tốt. Tất cả những điều này kết hợp lại khiến nó trở thành một trong những thiết bị hấp dẫn nhất mà người tiêu dùng có đủ khả năng mua vào thời điểm đó (giá 250 USD).


Sony Ericsson K750 (2005)



Liên doanh Sony Ericsson giữa Sony (Nhật Bản) và Ericsson (Thụy Điển) đã được tách ra vào đầu năm 2012, nhưng trước đó công ty đã gây chú ý với nhiều điện thoại chuyên chụp ảnh. Và K750 có lẽ là sản phẩm mang tính biểu tượng nhất trong series điện thoại chụp ảnh của Sony Ericsson.


Motorola RAZR V3 (2004)



RAZR V3 là điện thoại tính năng có thiết kế kết hợp giữa phong cách và chức năng được Motorola ra mắt vào năm 2004. Kiểu dáng thời trang, mạnh mẽ và cho phép lật lên để nhận cuộc gọi là một trong những nguyên nhân giúp sản phẩm thành công.


Sony Ericsson P910 (2004)



Thiết kế với màn hình lớn được xem là biểu tượng mà Sony Ericsson mang đến cho P910. Tuy nhiên, ở thời điểm đó phablet là một khái niệm còn khá xa vời.


Nokia 3310 (2000)



Không thể không nhắc đến sự xuất hiện của 3310, chiếc điện thoại vỏ nhựa cực kì chắc chắn, và người dùng cũng có thể chơi game Snake trên nó.


Nokia E51 (2007)



E series của Nokia được phát triển dành cho giới doanh nhân vốn không đánh giá cao chất lượng camera mà tập trung vào kiểu dáng sang trọng. Nokia E51 là một trong những điện thoại mỏng và thời trang rất được giới doanh nhân ưa chuộng lúc bấy giờ. Đây cũng là chiếc điện thoại có cấu hình phần cứng khá tốt.


Nguồn Phonearena.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.