Thứ Tư, 26 tháng 3, 2014

Microsoft thừa nhận có quét thông tin của người dùng máy tính

Microsoft thừa nhận có quét thông tin của người dùng máy tính

Đại diện Microsoft cho biết hãng này có quét thông tin từ máy của người sử dụng phần mềm của hãng để phục vụ khảo sát hiện trạng an toàn an ninh, song những thông tin cá nhân người dùng sẽ chỉ được dùng để nghiên cứu chứ không chia sẻ cho ai khác. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn có thể có một bên thứ ba được biết thông tin người dùng của Microsoft.


Cách đây ít lâu, tại buổi công bố Báo cáo điều tra An toàn thông tin toàn cầu của Microsoft, ông Mark McIntyre, Giám đốc Chương trình An ninh mạng khối Chính phủ của Microsoft cho biết để có được kết quả về hiện trạng an toàn thông tin, hãng này đã scan (quét) hơn 1 tỉ máy tính trên toàn cầu để phát hiện xem máy tính nào bị nhiễm mã độc. Riêng tại Việt Nam, Microsoft đã mua ngẫu nhiên 41 máy tính và phát hiện 38 máy có mã độc.


Trước thông tin này, ông Tạ Quang Thái, Tổng Giám đốc Công ty EcoIT nêu nghi vấn: "Microsoft đã scan các máy tính ở Việt Nam để khảo sát an toàn thông tin. Nhưng liệu có đúng Microsoft chỉ scan máy tính của người dùng để tìm hiểu vấn đề virus hay không? Quyền riêng tư của người dùng (privacy) được đảm bảo như thế nào?".


Ông Lê Trung Nghĩa, chuyên gia từ Văn phòng Phối hợp Phát triển Môi trường Khoa học Công nghệ, Bộ Khoa học Công nghệ cũng bày tỏ sự lo ngại các công ty lớn, trong đó có cả Microsoft, đã và vẫn đang giám sát thông tin của người sử dụng và có thể lấy những thông tin này để cung cấp cho các cơ quan, tổ chức khác như các cơ quan an ninh của Mỹ. "Có cách gì để người sử dụng có thể hoàn toàn tin tưởng rằng Microsoft sẽ không "đi đêm" với ai đó để làm những điều không có lợi cho người sử dụng các phần mềm?", ông Lê Trung Nghĩa đặt câu hỏi.


Ảnh

Microsoft có thể giám sát thông tin cá nhân của người dùng máy tính trên toàn cầu. Ảnh minh họa. Ảnh: Internet.



Trước những nghi vấn nêu trên, đại diện Microsoft thừa nhận hãng này có quét thông tin từ máy của người sử dụng rồi gửi thông tin về cơ sở dữ liệu của Microsoft để cập nhật các miếng vá lỗ hổng. Tuy nhiên, "Microsoft luôn là doanh nghiệp đi đầu về bảo mật thông tin người dùng, hết sức thận trọng đối với việc bảo mật thông tin của người dùng. Những thông tin của người dùng sẽ chỉ dùng để nghiên cứu chứ không chia sẻ thông tin cho ai khác", ông Mark McIntyre khẳng định.


Để trấn an thêm người dùng phần mềm Microsoft, Giám đốc Mark McIntyre nêu dẫn chứng tại Pháp, một quốc gia đi đầu về bảo vệ quyền riêng tư, nếu một công dân bất kì nói có nghi ngờ bị lấy thông tin cá nhân, cơ quan chuyên trách về bảo vệ thông tin cá nhân của chính phủ sẽ nghiên cứu, điều tra, nếu phát hiện có dấu hiệu đáng nghi ngờ, họ sẽ ngăn chặn hoạt động doanh nghiệp vi phạm, kể cả là những doanh nghiệp lớn như Yahoo, Google, Microsoft,...


Câu trả lời của đại diện Microsoft vẫn chưa thể thỏa mãn nghi vấn làm thế nào để biết chắc chắn rằng thông tin của người sử dụng không bị Microsoft tiết lộ cho một bên thứ ba, đồng nghĩa Microsoft không vi phạm quyền riêng tư khi scan máy tính người dùng. Nhất là với đặc thù tại Việt Nam hiện nay, nhận thức về quyền riêng tư vẫn còn hạn chế, vẫn chưa thấy có những động thái hoạt động tích cực của một cơ quan chuyên trách về bảo vệ thông tin cá nhân.


Ông Lê Trung Nghĩa tiếp tục đặt câu hỏi: "Ở Mỹ có đạo luật yêu nước yêu cầu các công ty phải cung cấp cho một số cơ quan về thông tin của người sử dụng, Microsoft có làm theo yêu cầu này hay không?".


Đại diện Microsoft trả lời: "Doanh nghiệp hoạt động ở đâu thì phải tuân thủ pháp luật của nước sở tại. Nếu chính phủ muốn lấy thông tin để phục vụ hoạt động chống khủng bố, tội phạm thì theo chúng tôi phải tuân thủ theo yêu cầu. Apple, Google, Yahoo,... cũng đều phải nộp báo cáo thường xuyên tại những nơi mà doanh nghiệp hoạt động".


Điều này đồng nghĩa thông tin của người sử dụng phần mềm Microsoft sẽ khó có thể được đảm bảo bí mật tuyệt đối, và không có chuyện Microsoft chỉ sử dụng thông tin của người dùng vào mục đích nghiên cứu chứ không chia sẻ cho ai khác.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.