Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

Cả nước đã có 111 dịch vụ công trực tuyến mức 4

Cả nước đã có 111 dịch vụ công trực tuyến mức 4

Lễ công bố phát hành Sách Trắng về CNTT-TT Việt Nam năm 2014 vừa được Bộ TT&TT tổ chức ngày 27/10/2014 tại Hà Nội. Ảnh: Minh Quyết.



Về tổng quan hiện trạng CNTT-TT Việt Nam năm 2013, theo Sách Trắng 2014 vừa được Bộ TT&TT chính thức công bố phát hành, trong báo cáo đánh giá về xã hội thông tin của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), chỉ số phát triển CNTT-TT của Việt Nam tụt 2 bậc, từ 86/155 năm 2012 xuống 88/157 năm 2013, vẫn xếp thứ 4 khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 14/28 nước châu Á-Thái Bình Dương. Việt Nam tiếp tục được ITU đánh giá cao về ứng dụng CNTT với thứ hạng 83/155 năm 2013.


Còn theo xếp hạng được công bố trong Báo cáo CNTT toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), thứ hạng chỉ số sẵn sàng kết nối NRI của Việt Nam năm 2013 đạt 84/148 nước, giữ nguyên so với 2012. Trong đánh giá này, mức độ sẵn sàng trong Chính phủ Việt Nam được xếp hạng 58/148 và đặc biệt giá cước dịch vụ viễn thông, Internet của Việt Nam gần như thấp nhất trên thế giới, xếp hạng 8/148.


Với lĩnh vực công nghiệp CNTT, Việt Nam vẫn nằm trong Top 10 khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Top 30 thế giới về gia công phần mềm theo báo cáo của Tập đoàn Gartner năm 2014. Hà Nội và TP.HCM tiếp tục có tên trong Top 100 thành phố hấp dẫn nhất thế giới về gia công phần mềm, trong đó TP.HCM xếp thứ 17 và Hà Nội xếp thứ 22.


Đáng chú ý, về xếp hạng Chính phủ Điện tử, Việt Nam xếp thứ 4 khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 99/193 nước được xếp hạng. Trong đó yếu tố nhân lực của Việt Nam được đánh giá cao, với xếp hạng về nguồn nhân lực tiếp tục giữ vị trí 101/155 quốc gia và chủ yếu được đánh giá cao về chất lượng đào tạo các môn khoa học cơ bản như Toán.


Về xếp hạng phát triển Internet, Việt Nam nằm trong Top 10 các nước châu Á có tốc độ tăng trưởng người dùng Internet nhanh nhất, xếp thứ 3 Đông Nam Á, thứ 7 châu Á và thứ 18 trên thế giới về số lượng người dùng Internet.


Cũng theo Sách Trắng 2014, đối với hoạt động ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước, tính đến cuối năm 2013, tỉ lệ máy vi tính trên tổng số cán bộ công chức tại các cơ quan cấp Bộ đạt hơn 86,7% và tại các cơ quan cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 89,7%; tỉ lệ máy vi tính có kết nối Internet của các cơ quan cấp Bộ đạt 93,3% và đạt 97,2% với các cơ quan cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 100% các Bộ ngành, tỉnh thành đã có trang/ cổng thông tin điện tử; 100% cơ quan nhà nước có mạng nội bộ và đơn vị chuyên trách về CNTT.


Ảnh

Dịch vụ công trực tuyến mức 4 cho phép người dân, doanh nghiệp có thể giao dịch, sử dụng dịch vụ qua mạng với hầu hết các công đoạn. Ảnh: Internet.



Năm 2013, dịch vụ công trực tuyến tăng trưởng cả về số lượng cũng như các địa phương triển khai cung cấp dịch vụ công, với số dịch vụ công mức 1 và 2 chiếm đa số. Số liệu thống kê trong Sách Trắng 2014 cho thấy, tổng số dịch vụ công trực tuyến là 104.306 dịch vụ, tăng 640 dịch vụ so với năm 2012. Trong đó, dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và 2 đạt 101.829 dịch vụ, giảm 166 dịch vụ; dịch vụ vụ công trực tuyến mức độ 3 đạt 2.366 dịch vụ, tăng 704 dịch vụ; và dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đạt 111 dịch vụ, tăng 102 dịch vụ so với năm 2012.


Trong số 111 dịch vụ công trực tuyến mức 4, số dịch vụ công trực tuyến mức 4 tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 55 dịch vụ và 56 dịch vụ công trực tuyến mức 4 được cung cấp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.


Trong 4 mức độ của dịch vụ công trực tuyến, mức 4 là mức cao nhất, với hầu hết các quy trình, thủ tục được thực hiện qua môi trường mạng, cụ thể: gửi trực tuyến hồ sơ, thực hiện các giao dịch trong quá trình thụ lí hồ sơ và cung cấp dịch vụ qua mạng, việc thanh toán chi phí sẽ được thực hiện trực tuyến, việc trả kết quả có thể thực hiện trực tuyến hoặc gửi qua đường Bưu điện.


Là tài liệu thường niên được Bộ TT&TT phát hành từ năm 2009, Sách Trắng nhằm cung cấp các thông tin, số liệu chính thức về ngành CNTT-TT Việt Nam. Sách Trắng 2014 gồm 175 trang in song ngữ Việt-Anh, với 14 phần được kết cấu, chia theo các lĩnh vực quản lí của Bộ TT&TT. Một điểm mới của Sách Trắng 2014 là năm nay Ban Biên tập đã bổ sung, cập nhật thêm một số nội dung thông tin hữu ích như: Cơ cấu xuất nhập khẩu sản phẩm phần cứng, điện tử; Các kênh phát thanh-truyền hình, trang thông tin điện tử, trò chơi trực tuyến và mạng xã hội; Nghiên cứu-phát triển ngành CNTT-TT.


Theo ICTnews.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.