Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Vì sao smartwatch vẫn chưa được người dùng chú ý?

Vì sao smartwatch vẫn chưa được người dùng chú ý?

Kể từ khi thị trường chứng kiến sự ra mắt của một số smartwatch ban đầu đến từ Samsung như Galaxy Gear, Gear 2; Sony với SmartWatch, SmartWatch 2 hay Pebble với Pebble Watch… mới đây tại Google I/O như Moto 360, LG G Watch, Gear Live và sắp tới sẽ có thêm các sản phẩm từ phía Apple như iWatch hay các sản phẩm từ Microsoft… hứa hẹn sẽ giúp thị trường smartwatch cuối năm sôi động hơn bao giờ hết.


Tuy nhiên, có một thực tế cho thấy rằng, ở thời điểm hiện tại, các sản phẩm đã ra mắt nêu trên vẫn chưa chứng tỏ được sự hấp dẫn của mình đối với người dùng và bằng chứng là doanh số bán hàng vừa qua đã cho thấy điều đó. Vậy vì sao lại có tình trạng này?


Thiết kế đơn điệu


Cũng giống như một chiếc đồng hồ đeo tay thông thường, bên cạnh việc thể hiện là một sản phẩm công nghệ, smartwatch cũng phải thể hiện mình là một sản phẩm thời trang, là một trang sức đeo tay, tuy nhiên không nhiều sản phẩm trên thị trường hiện nay đáp ứng đầy đủ điều kiện này.


Có thể nhận ra hầu hết các nhà thiết kế đã đưa vào chúng một “khuôn” hình chữ nhật thiếu tự nhiên, mặc dù họ đã cố “nhồi nhét” màu sắc, khung kim loại tạo sang trọng… nhưng việc không có đột phá về tính thẩm mĩ đã là “chùn bước nhiều người”. Đó là chưa kể việc “phối” đồ làm sao cho phù hợp: một bộ vest sang trọng, đôi giày hàng hiệu… không thể đi kèm với một chiếc đồng hồ lòe loẹt và dây nhựa rẻ tiền được.


Ảnh

Moto 360 là chiếc smartwatch đầu tiên chạy Android Wear với màn hình tròn truyền thống



Cũng đã có một số smartwatch đi theo phong cách tròn truyền thống, ví dụ như Moto 360. Nhưng cái gì cũng có sự đánh đổi của nó, nếu như sản phẩm của Motorola có ngoại hình trang nhã, bắt mắt như đồng hồ truyền thống thì cũng đồng nghĩa với việc khả năng hiển thị đầy đủ thông số bị giảm đi khá nhiều, và khả năng thao tác cũng bị giảm đi rất nhiều so với màn chữ nhật.


Chưa thể hoạt động độc lập, chưa “thông minh” đúng nghĩa


Chúng ta có thể nhận ra rằng để có thể hoạt động được ngoài việc hiển thị giờ giấc, hẹn giờ… (điều mà các đồng hồ điện tử thông thường vẫn làm được), smartwatch vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào smartphone để có thể phát huy đầy đủ tính năng của nó.


Việc phải kết nối (tức là phải mang theo cùng lúc 2 thiết bị) cồng kềnh đã đành, đằng này việc kết nối cũng không làm được điều gì nhiều ngoài hiển thị thông báo email, MXH, tin nhắn… Hoặc nếu có tính năng nghe gọi, người dùng cũng phải bằng cách “đưa tay lên miệng” để nói và điều này rất khó chấp nhận được ở nơi đông người.


Ảnh

Galaxy Gear Fit.



Có thể với những smartwatch gần đây, các nhà sản xuất cũng đã tích hợp vào đó những bộ cảm biến sức khỏe như Gear 2, Gear 2 Neo, Gear Fit của Samsung tích hợp cảm biến nhịp tim, đo bước chạy bộ… nhưng nếu muốn hiển thị các thông số này, người dùng cũng phải cần đến một chiếc smartphone.


Bên cạnh đó, việc hỗ trợ rất ít ứng dụng cho đồng hồ thông minh cũng là rào cản khiến người dùng e ngại. Ngay cả các ứng dụng đã tải về, việc hoạt động cũng không được trơn tru 100% công suất của nó bởi cấu hình phần cứng quá thấp (do không thể tích hợp cấu hình mạnh vào cơ thể nhỏ gọn này) và cuối cùng, smartwatch cũng phải “cầu cứu” tới smartphone.


Trong tương lai, smartwatch đang kì vọng sẽ trở thành thông minh thực sự khi có thể “ra lệnh” thông qua trợ lí áo như Siri hay Google Now nhưng tính tương tác cao hơn. Tuy nhiên, một rào cản lớn là việc các nhà sản xuất phần cứng có vẻ như vẫn chưa tin tưởng sự thành công của thiết bị đeo này.


Thời lượng pin


Không chỉ trên laptop, smartphone, MTB… thời lượng pin là vấn đề tối quan trọng của bất kì một thiết bị di động nào và smartwatch không nằm trong trường hợp ngoại lệ. Và nếu như việc sạc pin xảy ra thường xuyên trong thời gian ngắn, bạn biết sẽ phải làm gì với chiếc đồng hồ của mình.


Đặc thù của đồng hồ là có thể sử dụng liên tục trong thời gian dài, nhưng với một số cái tên mới đây được giới thiệu như Galaxy Gear hoạt động 25 giờ liên tục, 2 ngày nếu ở chế độ chờ, SmartWatch của Sony sử dụng tầm 3 - 4 ngày là chưa đủ. Đây có thể là thời lượng sử dụng lí tưởng đối với smartphone hay MTB nhưng trên đồng hồ, không ai muốn tính thời gian sử dụng bằng giờ cả. Có thể sạc dự phòng sẽ là giải pháp nhưng không phải ai cũng muốn mang chúng.


Giá cả chưa phù hợp


Từ khi ra mắt, Gear 2 của Samsung được bán với giá lên tới 295 USD (hơn 6,3 triệu đồng) hay Gear đời đầu là 300 USD (gần 6,5 triệu đồng), hoặc như SmartWatch 2 của Sony được bán với giá hơn 4 triệu đồng. Sắp tới nhiều khả năng các thiết bị ra mắt tại Google I/O 2014 vừa qua cũng sẽ bán với giá từ 150 USD trở lên và đây có thể nói là mức giá khá cao, “không đáng” để người dùng bỏ ra khi những tính năng mà nó mang lại khá ít và có thể thay thế bằng smartphone hay đồng hồ thông thường.


Khi bắt đầu mua hàng, người dùng luôn muốn quan tâm đầu tiên đến lợi ích sử dụng nhưng với giá cả trên khó có ai có thể bỏ ra một lượng lớn tiền để tiết kiệm khoảng 3 giây kể từ khi rút điện thoại ra khỏi túi quần cả.


Có thể smartwatch sẽ là xu thế tiếp theo giống như smartphone đã làm ở thập kỉ trước, nhưng ở thời điểm hiện tại, nó vẫn chưa đủ hấp dẫn để người dùng có thể lựa chọn nó.


Theo Dân Trí.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.