Thứ Tư, 9 tháng 7, 2014

Người dùng Android có thực sự cần công cụ bảo vệ

Người dùng Android có thực sự cần công cụ bảo vệ

Theo Adrian Ludwig, người đứng đầu mảng an ninh cho Android tại Google cho hay người dùng Android dù có cài đặt phần mềm chống virus cũng như các ứng dụng bảo mật khác thực sự chẳng an toàn hơn những khách hàng không sử dụng bất kì một công cụ bảo vệ nào. Adrian Ludwig còn cho rằng nguy cơ từ những ứng dụng độc hại này đang được thổi phồng; và ông tin rằng người dùng Android chẳng cần thiết phải cài đặt bất kì ứng dụng bảo vệ của một bên thứ 3 nào khác.


Tuy nhiên, với quan điểm hoàn toàn trái ngược, Graham Cluley chuyên gia an ninh với hơn 14 năm công tác tại Sophos đã chỉ ra rằng Adrian Ludwig đã hoàn toàn sai trong chuyện này. Trong bài phân tích trên Blog cá nhân của mình, Graham Cluley đã đưa ra các lập luận như sau. Về việc Adrian Ludwig cho rằng người dùng Android có thể được an toàn bằng cách cập nhật các phiên bản HĐH mới nhất - Cluley đã chỉ ra cho thấy nói bao giờ cũng dễ hơn nhiều so với hành động cụ thể. Cách mà một thiết bị Android được cập nhật phiên bản HĐH mới mang nhiều yếu tố ngẫu nhiên hơn so với iPhone. Đôi khi, trong chưa đầy một năm, thị trường lại xuất hiện một mẫu smartphone Android mới. Cũng đôi khi, hãng lại tuyên bố sẽ không cung cấp bất kì bản cập nhật HĐH cho một sản phẩm nào đó.


Với các ứng dụng, Ludwig cho rằng ngay thời điểm người dùng tải một ứng dụng từ Goolge Play, họ đã có được những đánh giá tốt nhất về ứng dụng đó. Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, cửa hàng trực tuyến này gần đây đã được phát hiện tồn tại khá nhiều ứng dụng giả mạo và độc hại trong đó có cả ứng dụng giả mạo BBM của BlackBerry và nhiều ứng dụng diệt virus mạo danh khác. So với Apple, quy trình kiểm tra ứng dụng trên cửa hàng trực tuyến của Google có phần lỏng lẻo hơn. Số liệu nghiên cứu quý I năm 2014 cho thấy có đến 275 báo cáo đe dọa an ninh người dùng Google trong khi Apple chỉ nhận được 1 báo cáo; và chỉ ảnh hưởng đến các thiết bị đã được jailbreak.


Trong năm 2013, F-Secure đã cho thấy đến 97% phần mềm độc hại di động được thiết kế để hoạt động trên nền tảng HĐH của Google. Và trong quý I năm 2014, con số này đã tăng lên đến 99%. Tuy vậy, cũng theo công ty bảo mật này, tỉ lệ ứng dụng mang malware trên kho ứng dụng của Google chỉ vào khoảng 0,1% theo thống kê của năm 2013. Như vậy, mặc dù nguy cơ an ninh từ ứng dụng độc hại khá cao, song nếu chỉ tải ứng dụng từ Google Play, người dùng phải thật kém may mắn lắm mới tải nhằm phần mềm độc hại. Thêm vào đó, các phần mềm độc hại trên Google Play cũng có "tuổi đời" rất ngắn vì Google cũng sẽ nhanh chóng loại bỏ chúng khỏi cuộc chơi.


Tuy nhiên, khi người dùng tải ứng dụng từ một nguồn khác lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Khả năng tải nhằm ứng dụng độc hại từ các nguồn ngoài này là rất cao - ngoại trừ AppStore của Amazon. Nơi sinh sống cũng là một yếu tố chi phối khả năng tải nhằm ứng dụng độc hại của người dùng. Theo báo cáo của F-Secure, trong quý I năm 2014, người dùng Android ở Anh Quốc là những đối tượng bị lây nhiễm malware nhiều nhất.


Như vậy, liệu người dùng có cần cài đặt phần mềm chống virus hay một công cụ bảo mật nào khác cho smartphone của mình? Câu trả lời ở đây vào thời điểm này thực sự còn tùy thuộc vào hành vi sử dụng của họ. Nếu thường xuyên tải các ứng dụng từ nhiều nguồn khác nhau, bạn đang đứng trước nhiều nguy cơ an ninh hơn so với đối tượng chỉ tải ứng dụng từ cửa hàng của Google. Và nếu như bạn chỉ chọn lựa những ứng dụng từ những nhà cung cấp tên tuổi và đáng tin cậy, nguy cơ gặp phải những ứng dụng giả mạo càng thấp.


Adrian Ludwig cho rằng “nếu nhu cầu công việc thực sự cần một công cụ bảo vệ an ninh thì bản thân anh cũng sẽ lưu ý đến điều này. Ngoài ra, những người dùng Android bình thường hầu hết đều không cần thiết phải cài đặt các phần mềm anti-virus”.


Tuy nhiên, công bằng mà nói, người dùng cũng không nên quá tin tưởng vào sự bảo vệ từ Google. Nếu cảm thấy thực sự cần một công cụ bảo đảm an toàn cho thiết bị Android của mình, bạn có thể chọn những tên tuổi như Bitdefender, Avast, Lookout hay AVG.


Theo pcworld.com.vn. Nguồn Betanews.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

QUẢN LÝ KHÁCH SẠN NHÀ HÀNG

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN

QUẢN TRỊ NHÀ HÀNG KHÁCH SẠN Nỗ lực tìm một CEO (tổng giám đốc) chuyên nghiệp với kỳ vọng người này sẽ đồng hành, gắn bó lâu dài là tâm lý chung của đa số doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, những cuộc “hôn nhân” đó đều chấm dứt chỉ sau một thời gian ngắn. Khi có sự thay đổi lớn về chiến lược, chẳng hạn như tái cấu trúc, chuẩn bị mua bán – sáp nhập, mở rộng vốn đầu tư và thị trường, các chủ doanh nghiệp thường có nhu cầu tìm kiếm một tướng giỏi để giúp họ lèo lái công việc. Song, khi đã thành công hoặc tạm thành công với chiến lược mới, dấu hiệu rạn nứt giữa đôi bên bắt đầu xảy ra và CEO phải ra đi. Ông Robert Trần, CEO Công ty Robenny khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chuyên tư vấn và cho thuê CEO, khuyên, các ông chủ doanh nghiệp đừng quá kỳ vọng vào một cuộc hôn nhân bền vững, lâu dài. “Doanh nghiệp Việt nên thay đổi quan niệm, chọn đúng CEO vào đúng từng giai đoạn phát triển của công ty”, ông nói. Đây cũng là cách thức mà các nước phát triển đã áp dụng thành công.

Khi nào tôi cần thuê CEO?
Nam Long là một tập đoàn chuyên đầu tư và kinh doanh bất động sản đã trải qua 18 năm tồn tại, có 8 công ty con và đang hoạt động mạnh trong 3 lĩnh vực: phát triển quỹ đất, nhà ở và các dự án văn phòng, trung tâm thương mại. Với quy mô ngày càng lớn, ông Nguyễn Xuân Quang, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Nam Long, cho biết ông muốn tìm một CEO chuyên nghiệp nhưng 5 năm rồi vẫn chưa tìm được.
Không giống như Nam Long, các công ty như Đồng Tâm, Giấy Sài Gòn đều đã thuê CEO, nhưng rồi họ cũng ra đi. Sau các cuộc chia tay đó, ông Võ Quốc Thắng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đồng Tâm và ông Cao Tiến Vị, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Giấy Sài Gòn, đã có những trải nghiệm quý giá chia sẻ với gần 200 doanh nhân tại buổi Tọa đàm “Finding CEO – Gian nan đường tìm tướng giỏi” do Nhịp Cầu Đầu Tư tổ chức vào cuối tháng 10 vừa qua.
Theo ông Robert Trần, mỗi doanh nghiệp đều trải qua 3 giai đoạn phát triển: bắt đầu phát triển, phát triển và phát triển bền vững. Ở mỗi giai đoạn doanh nghiệp sẽ có mục tiêu khác nhau nên nhu cầu thuê CEO cũng khác nhau. Theo ông, đa số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam hiện nay ở giai đoạn đang phát triển, nhưng chính xác là vào đầu, giữa hay cuối giai đoạn thì chủ doanh nghiệp cần phải xác định rõ.
Năm 2007, Đồng Tâm là 1 trong 2 doanh nghiệp lớn của Việt Nam được Bộ Khoa học Công nghệ chọn triển khai thí điểm dự án “Vươn tới đỉnh cao” (BiC – Best in Class), xây dựng những thương hiệu lớn của Việt Nam vươn lên tầm khu vực. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải tái cấu trúc dây chuyền sản xuất, nhân sự… Chủ tịch Võ Quốc Thắng đã mời ông Etienne Lucien Laude (quốc tịch Pháp), từng là CEO Công ty Thiết bị Điện Schneider Vietnam, về giữ chức CEO của Đồng Tâm.
Về Đồng Tâm tháng 8.2008, ông Laude đã bắt tay triển khai module đầu tiên về quản lý sản xuất theo BiC, giúp tiết kiệm tối đa chi phí quản lý, hạn chế tồn kho… Tuy nhiên, cuối tháng 9 vừa qua, Tập đoàn Đồng Tâm đã kết thúc hợp đồng 2 năm với CEO người Pháp này, dù những module quan trọng của quá trình tái cấu trúc vẫn chưa kết thúc.
Giống như Đồng Tâm, đầu năm 2003, Giấy Sài Gòn tiến hành cổ phần hóa, ông Vị đã bắt đầu nghĩ đến việc thay đổi mô hình quản trị từ gia đình sang kiểu quản lý chuyên nghiệp thường thấy ở nhiều tập đoàn đa quốc gia, thuê CEO điều hành Công ty, còn ông lui về làm chiến lược. Đến năm 2008, Giấy Sài Gòn quyết định tăng vốn, mở rộng đầu tư và đã mời ông Trần Xuân Nam về làm CEO. Ông Nam từng là giám đốc tài chính của nhiều công ty lớn như Đồ gỗ Scancom Việt Nam (Đan Mạch), Coca-Cola Việt Nam, Tập đoàn Kinh Đô và là Phó Giám đốc Công ty Gỗ Trường Thành. Với kinh nghiệm và chuyên môn về tài chính, ông Nam đã rất thành công trong việc huy động vốn cho Công ty. Tuy nhiên, khi Giấy Sài Gòn đặt ra chỉ tiêu duy trì và tăng trưởng doanh thu trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu thì sở trường tài chính của vị CEO mới không còn phù hợp. Cuối năm 2008, ông Nam từ chức.
Lúc này, ông Vị đã mời ông Huỳnh Văn Rô, vốn giỏi trong lĩnh vực bán hàng, về thay ông Nam. Năm 2008, dưới thời ông Rô, tốc độ tăng trưởng của Giấy Sài Gòn có phần ổn định, song tình hình nhân sự lại có nhiều xáo trộn, không ít người giỏi đã ra đi. Đến cuối năm 2009 ông Rô cũng rời Giấy Sài Gòn, ông Vị lại trở về với vai trò CEO.
Cũng với mục đích thay đổi chiến lược, năm 2009, Công ty Cổ phần Kềm Nghĩa quyết định mở rộng thị trường ở nước ngoài, tham vọng xây dựng thương hiệu toàn cầu và mời ông Đỗ Hòa về làm CEO. Ông Hòa từng có hơn 10 năm làm CEO cho các công ty thương mại nước ngoài và Giám đốc Chiến lược Khu vực Đông Nam Á cùng với New Zealand và Úc của Tập đoàn Shell (Hà Lan) suốt 9 năm, trong đó có 2 năm làm chuyên gia cao cấp của Shell tại Indonesia. Tuy nhiên, sau 1 năm, ông Hòa cũng rời Kềm Nghĩa với lý do không đồng quan điểm về chiến lược phát triển của Công ty. Sau 1 năm ông Hòa làm CEO, doanh số của Kềm Nghĩa đã tăng từ 13% lên 21%, ngay trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu và doanh số của toàn ngành lúc đó giảm đến 40%.
Dù đều có kết cục chung đường ai nấy đi, nhưng sau những cuộc chia tay này ông Robert Trần cho rằng, các ông chủ doanh nghiệp nói trên vẫn đạt được những thành công nhất định vì đã chọn đúng CEO vào đúng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đến đây một câu hỏi khó lại được đặt ra là biết tìm ở đâu những CEO như vậy.
CEO đến từ đâu?
Theo ông Robert Trần, có 3 nguồn thuê CEO là người Việt làm quản lý tại các công ty đa quốc gia, Việt kiều và nhà quản lý người nước ngoài.
Nhóm CEO người Việt có mặt mạnh là am hiểu thị trường, có nhiệt huyết và tham vọng phát triển nhanh. Đặc biệt, họ cùng có chung ngôn ngữ, am hiểu văn hóa làm việc của người Việt. Trong khi đó, các CEO là Việt kiều đa số có kinh nghiệm quản lý từ các tập đoàn đa quốc gia và lợi thế của họ là giỏi ngoại ngữ, biết văn hóa làm việc ở trong nước và cả nước ngoài. Cuối cùng là CEO người nước ngoài, với lợi thế được đào tạo và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp của các tập đoàn đa quốc gia, hiểu thị trường nước ngoài.